Lịch sử Nho.

II. TỪ HOÀNG NHO QUA DI NHO TỚI VIỆT NHO
Phi lộ
Bài sau đây nói đến hai thứ Nho, một là Hoàng Nho cũng có tên là Di
Nho hay Việt Nho. Hai là Hán Nho cũng có lúc gọi là Chu Nho. Như vậy
chủ đích là nói về văn hóa, chứ tuyệt nhiên không đả động chi đến vấn đề
chủng tộc tức không xem Tàu với Di hay Việt khác nhau về chủng tộc mà
chỉ có ý đến hai thứ Nho. Việt Nho là nguyên thuỷ chung cho cả Việt lẫn
Tàu. Hai là Hán Nho cũng là Nho đã được người Tàu hoàn chỉnh (tức làm
cho trọn vẹn cũng gọi là công thức hóa) và sau đó có đọa do đưa vào
chừng 30% chất du mục, nay cần phân định để gạn lọc hầu đạt Nho chính
thống.
Các học giả cả Tàu lẫn Tây Aâu khi nói về Nho đều dùng tiếng
Confucianism, đến nỗi nhiều người không biết đến tên Nho, càng không
biết đến những chặng tiến của Nho. Đó là điều chúng tôi có ý bổ túc
trong bộ triết Việt Nho này.
Vậy Nho có tất cả 4 giai đoạn:
Một là Hoàng Nho thuộc Tam Hoàng từ –4480 đến –3080
Hai là Di Nho từ vua Thuấn –2255 đến Vũ –2205
Ba là Việt Nho lối Xuân Thu –821
Bốn là Hán Nho cũng là Khổng Giáo từ nhà Chu –1122
Hoàng Nho là Nho của Tam Hoàng: Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông. Nho
đợt này chứatrong 4 loại sách gọi là “Tam phần, Ngũ điển, Bát sách, Cửu
khâu”. Đời Chu có đặt chức quan Ngoại sử coi về bộ cổ thư này (xem
Chu Lễ, chương Xuân Quan Tông Bá, tiết Ngoại Sử). Nhưng sau không
hiểu sao lại để mất. Gọi là ngoại sử vì thuộc giai đoạn trước khi có dân
tộc Tàu. Tàu chỉ xuất hiện từ Hoàng Đế là cùng cực và sách tự đấy thì do
quan “nội sử” trông coi. Vì sách đã mất nên nay ta chỉ có thể biết cách
gián tiếp qua những đức tính của Tam Hoàng mà dấu đặc trưng nổi bật là
huyền số như ta thấy số 3, 5, 8, 9 trong tên sách. Rồi đến tính cách và
phong thái của Tam Hoàng như sống cả trên trời lẫn dưới nước (tiên
rồng). Phục Hy thì làm ra “Dịch tiên thiên”. Nữ Oa nấu đá ngũ sắc. Thần
Nông khai sáng nông nghiệp. Đấy là loạt tổ đầu tiên lập ra Nho, tôi gọi là
Hoàng Nho và là tổ của Tứ Di. Trứơc khi nói đến Di Nho hãy nhận xét
hai điều:
Trước hết là Nho đã được đặt nền móng xong hẳn, người Tàu chỉ có thể
hoàn chỉnh (trọn vẹn hóa) chứ không thêm được gì cũng không thể bỏ.
Kinh Thư hay nhắc: nếu không lấy ở cổ đạo thì lấy giáo huấn ở đâu? “Bất
do cổ huấn, vu hà kỳ huấn” (thiên Tất Mệnh câu 11). Đó là cái Đạo mà
Khổng An Quốc gọi là Đại Đạo (bài tựa Kinh Thư). Chúng ta sẽ bàn ở
chương sau.
Điều hai là vì vụ nhà Chu “để mất” các cổ thư nên sau người ta quên hẳn
dòng văn hóa Hoàng Nho, mới có truyện móc nối với Hoàng Đế, và tính
năm tự Hoàng Đế (-2696) trở lên thành ra Phục Hy là –2852 và Thần
Nông là –2737.
Đó là những niên hiệu cần phải thải bỏ, vì nó trái với khảo cổ: hai di chỉ
Long Sơn và Ngưỡng Thiều phải có tự 4 đến 5, 6 ngàn năm trước. Văn
hóa Hòa Bình cũng đã có Thần Nông tức lối 10 ngàn năm trước là ít. Vì
vậy nên ghi niên hiệu lưu truyền không phải vì nó đúng hơn, nhưng vì nó
bớt xa sự thực hơn.
Đợt tổ thứ hai là Nghiêu Thuấn, nhất là Thuấn là tổ của Khổng Tử.
Khổng Tử không là nhà sáng lập mà chỉ là người truyền bá. Truyền bá
đạo nào? Thưa là đạo Di Nho đó. Sách Trung Dung câu 30 nói “Trọng Ni
tổ thuật Nghiêu Thuấn, Hiến chương văn võ. Thượng luật thiên thì, hạ tập
thuỷ thổ”: Trọng Ni (tên Khổng Tử) thuật lại đạo ông tổ của mình là hai
ông Nghiêu Thuấn, và hiến chuơng của vua Văn, vua Võ. Trên thì để tâm
đến Thiên thời, dứơi thì chú ý tới lệ tục từng nơi”. Câu trên bày tỏ hai
chiều kích (có chân trên hai tàu): Đạo chung thì lấy từ ông Nghiêu ông
Thuấn, còn hiến chương (hay hiến pháp tức khởi đầu đi vào cụ thể tư
riêng) thì lấy của vua Văn, vua Võ. Câu sau giải rộng: Đạo phổ quát thì là
chữ Thời, đến lúc hiện thực thì phải tuỳ nơi, (hạ tập thuỷ thổ). Câu sách
trên cho thấy rõ Khổng Tử chỉ thuật lại cái đạo của ông Thuấn ông Văn;
vậy mà ông Thuấn ông Văn đều là người Man Di “Thuấn Đông Di chi
nho, Văn Vương Tây Di chi nhân” (Mencius IV b.1)
Đợt cuối là Việt Nho. Việt cũng gọi là Bách Việt là một tên mới dùng để
chỉ Tứ Di, hay Man Di, tức không phải dòng tộc mới mà chính là liên
đoàn các dân thổ trước đã cư ngự ở nước Tàu trước khi Tàu xuất hiện, và
gọi là Viêm Chủng, là Tam Miêu, Cửu Lê, rồi Cửu Di, Tứ Di v.v… đến
quãng sau này chỉ bằng tên Bách Việt gồm rất nhiều chi như:

Bộc Việt = miền Kinh Sở
Liêu Việt = miền Hồ Quảng
U Việt = miền Chiết Giang
Mân Việt = miền Phúc Kiến
Nam Việt = Lưỡng Quảng (Lưỡng Việt)
Lạc Việt = Bắc Việt
v.v…
Người vẫn là một dù mang tên Hoàng, Di hay Việt. Nhưng sở dĩ phải
dùng những tên khác nhau cho hợp lịch sử và nhất là có những chặng nhỏ
để dễ nhận diện: tự người Việt liên hệ với Bách Việt. Bách Việt cũng là
Man Di. Di là con cháu của Tam Hoàng, nhất là đợt tên mới này bao gồm
Việt Nam là nước hiện có hoàn cảnh sử địa đặc biệt đáng tên là đại diện
cho Di Nho hay Hoàng Nho, thì từ nay nói đến các thứ Nho này có người
thừa kế sống động để “bênh vực quyền lợi” của Di Nho, kẻo tự trước tới
nay chỉ có mình Hán Nho lên tiếng, còn Di Nho kể như người vắng mặt.
Ngạn ngữ Pháp nói “kẻ vắng mặt bao giờ cũng có lỗi hay bị thiệt thòi”,
les absents ont toujours tort. Từ nay có Việt Nho thì hết sợ thiệt thòi.
Huống chi ta đang kiến thiết một triết lý để sống thì cần phải có người
sống thật sự, mới hy vọng viết ra được đạo sống.
Vậy bây giờ xin hỏi Di là những giống người nào?
Di có hai nghĩa: một là chỉ những bộ lạc “man rợ” ở phía đông nước Tàu.
Trong ý đó Di đi với Nhung miền Tây, Địch miền Bắc (như Kim, Mông,
Mãn) Man miền Nam (như vùng Hồ Quảng cũng gọi là Kinh hoặc Kinh
Man. Huyền sử Việt gọi là Di là Dương trong tên Kinh Dương Vương).
Như vậy Di gồm từ miền núi Thái Sơn, Châu Từ, Hoài An, Giang Tô,
Giang Nam trở xuống (trong Kiều gọi là người Việt Đông).
Còn một nghĩa chung và thông thường hơn thì Di chỉ tất cả các dân cư
ngụ trong nước Tàu mà không phải là Tàu, hay chưa là Tàu và thường
được chỉ bằng hai chữ “Tứ Di” thí dụ câu “Tứ Di tả nhậm” trong Kinh
Thư, thiên tất mệnh, câu 13. Nhiều chỗ tứ Di được thay bằng Tứ Phương
hoặc Tứ Hải. Theo sách Nhĩ Nhã thì hai chữ “Tứ Hải” có nghĩa như Tứ
Di cũng như chữ Tứ Di sẽ mang nhiều tên khác như Man Di, Bành cũng
đọc là Bàng, Bang, Bang cũng dọc là Man. Rồi Bàn cũng đọc là Ban, Ba
cũng đọc là Bà. Cũng có khi Di mang tên Cơ (Aâu Cơ) hoặc Nhung hay
Địch hoặc Đông Di, Điểu Di, Lai Di, Tam Miêu, Cửu Lê và nhất là từ
thời Chiến Quốc có tên Bách Việt.
Trong quyển V của Legge “The Ch’un Tséw” trang 112 có in tấm bản đồ
với chữ “Việt Đông tỉnh thành. Tuy văn Đường khắc” thì hai chữ Việt
Đông chỉ bao trùm các thứ Việt ở rải rác từ miền Thái Sơn trở xuống
xuyên qua các tỉnh miền Hoài Giang, Giang Tô, Giang Nam, trong đó có
“quê hương” của những “nhân vật” nổi tiếng như Phục Hy, Nữ Oa, Thần
Nông. Như vậy chữ Bách Việt cũng như chữ Tam Miêu, Cửu Lê, chỉ liên
đoàn các dân mà trước kia gọi là Tứ Di, Tứ Hải nên không có sự phân
biệt rõ ràng giữa các tên, thí dụ Di cũng gọi là Nhung mặc dầu Di ở mạn
Đông, Nhung ở mạn Tây. Người Việt có tổ tiên Lạc Việt, mà Lạc cũng đi
đôi với Dịch ở mạn Bắc thành ra Lạc Dịch. Hay chữ Bàng (trong Hồng
Bàng) cũng đọc là Bành là Bang, mà Bang lại cũng đọc là Man, nên
Viêm Bang cũng là Viêm Man hay Viêm Việt, mới coi như có sự dùng
bừa bãi, mà xét thấu đáo thì lại thấy có cái lý do của sự việc, tức những
tên khác nhau tuy ban đầu chỉ một chi tộc khác nhau, nhưng vì có sự pha
giống giữa các chi và nhất là có những yếu tố văn hóa căn bản như nhau,
nên về sau các tên hay được dùng chung nhau. Trong các tên hay được
dùng thì có Tam Miêu, Cửu Lê mà ông Needham (II.117) gọi là “liên
đoàn các dân” hoặc “cộng đồng huynh đệ” nhưng còn nhiều tên khác như
Bàng, Bành, Bang, Bàn, Man Di, Cửu Di, Tứ Di, Nhung Di, Từ Di, Hoài
Di, Điểu Di, Lai Di, Bách Việt: Bộc Việt, Liêu Việt, U Việt… cả ba
chùm tên trên (hay bốn, năm, sáu…) đều cùng có chung một tiên tổ văn
hóa đã cư ngụ trong nứơc Tàu trước khi người Tàu xuất hiện như một
dân, nghĩa là chưa tách ra khỏi đại khối. Đó là một sự thực to lớn là 25
thế kỷ qua đã bị quên khuấy, phải chờ đến thế kỷnày mới được khoa học
khui ra. Và điều này rất cần được ghi nhận và nghiên cứu khi tìm về
nguồn gốc văn hóa Đông Nam Á. Đó là điểm một.
Điểm thứ hai cần phải để trước mắt là về người Tàu và nứơc Tàu. Người
Tàu là ai?
Thưa có 3 loại. Thứ nhất là những người trước chính là Di nhưng sau đã
trở nên văn minh mà hóa ra Tàu. Hai là những rọ phương Bắc như Mông,
Mãn, Tạng, Hồi, và nứơc Tàu rồi thấm được văn hóa Di, sau trở nên Tàu.
Ba là những bộ tộc của Di mà Tàu chinh phục thí dụ ba nước Sở, Ngô,
Việt rồi được đồng hóa ra Tàu. Vì thế khi tôi nói 70% dân Tàu là Di là
nói non cho chắc ăn, chứ thực sự phải hơn nữa.
Còn nước Tàu to lớn như ngày nay thì mới có tự đời Tần Hán (năm 221
tr.c.n) chứ trước nữa bé hơn nhiều lắm. Theo huyền thoại thì nước Tàu có
tự đời Hoàng Đế Hiên Viên, nhưng đó chỉ là huyền thoại không có đủ bảo
chứng về khảo cổ. Ngày nay các cuộc tìm kiếm theo phương pháp khoa
học đã minh chứng là những nhân vật như Hoàng Đế, Nghiêu Thuấn, mới
được tạo dựng lên tự cuối đời Chu chứ trong các sách cổ hay cốt tự văn
hoặc chữ tạc lên đồ đồng không hề nhắc đến các “vị” đó. Vì vậy không
còn được coi là nhân vật có thực trong lịch sử của Tàu mà chỉ còn được
kể là những anh hùng văn hóa hầu hết là của Di Việt, ngoại trừ vài người
như Hoàng Đế là đại diện cho văn hóa “du mục”. Đây là loại văn hóa mới
xuất hiện để chinh phục văn hóa nông nghiệp chỉ thị bằng Li Vưu con
cháu Thần Nông.
Còn nói về sử ký thực sự thì Tàu mới xuất hiện tự tộc Thương quãng 17
thế kỷ trước công nguyên. Có người muốn kể cả tộc Hạ, nhưng nói chung
tộc Hạ chưa được giới nghiên cứu công nhận. Tộc Thương khi mới xuất
hiện thì chỉ như một bộ lạc hùng mạnh hơn các bộ lạc chung quanh, địa
vực lại rất khiêm nhượng, sau bao cuộc chinh phục mà đất đai cũng mới
rộng chừng vài ba trăm ngàn dặm. Ngay đến đời Chu mà xem trong bản
đồ in trong quyển Kinh Thư của Legge (IV tr.126) cũng chỉ quanh quẩn
hai bên bờ Hoàng Hà mà ở giữa còn xen kẽ vô số bộ lạc của Di, sách cổ
quen gọi là vạn quốc chư hầu. Vì thế về đất đai cũng chưa nổi bật như sau
này tự đời Tần Hán.
Còn về văn hóa thì trứơc tộc Thương tất cả nước Tàu như nhau nghĩa là
chỉ có văn hóa Tứ Di, tức cũng anh em kế nghiệp chứ chưa có tông pháp
trao quyền theo con cả. Khi múa cũng mang lông chim. Các bà đẻ con
theo kiểu trống quân tức là dã hợp. Trong quyển Tiền Sử ông Andreas
Lommel ghi nhận “tất cả miền đất mênh mông tự Thái Bình Dương trở
lên đến đất mạn nam Trung Quốc đều cùng một nền văn hóa. Đảo Borneo
cũng có nghệ thuật như ở sông Hoài (sông Hoài là Giang Tô miền nước
Ngô xưa) Préhist tr.180.
Sự khác biệt giữa Di và Tàu còn rất ít. Đời Thương mới thấy có sự khác
về lá cờ: cờ tộc Thương là cờ bạch hổ (Shang civ .206), đang khi các chư
hầu đều trương cờ rồng. Kinh Thi nói “cờ rồng bay phơi phới”, “long kỳ
dương dương” (Kinh Thi Legge IV tr.591). Còn văn hóa vẫn là Di, chỉ có
biến đổi tự nhà Chu do sự đưa những yếu tố văn minh vào như chức thiên
tử, hoạn quan, luật hình. Đấu là những yếu tố mượn bên miền du mục
Lưỡng Hà như Perse, Assyria, chúng sẽ lớn lên và làm bẻ quặt Di Nho
nên bị tiếng là du mục. Nhưng là du mục so với Di Nho chứ còn đối với
Tây phương thì Chu Nho (sau này gọi là Hán Nho) cũng còn là nông
nghiệp có thể nói đến 70%. Du mục chỉ chừng độ 30% là nhiều. Cứ xem
bảng tiếng nói thì tạm có một ý niệm rõ hơn. Theo các nhà ngôn ngữ thì
Tàu có đến 10 phương âm. Trong đó tiếng Quan Thoại đựơc kể là chính
thức (do may mắn là tiếng nói của kinh đô vua ở, nên được đắc dụng chứ
không vì văn hóa cao). Tiếng Quan Thoại cũng chỉ gồm có phía đông
Thiểm Tây, bắc Hà Nam, nam Hà Bắc, nam Sơn Tây. Ngoại giả hầu khắp
nơi đều nói giọng của Di Việt gồm có:
Tần ngữ đuợc coi như cổ ngữ của Quan Thoại
Thục ngữ âm của người Thái xưa.
Yên, Tề ngữ của Đông Di và Mạc Dịch.
Sở ngữ: Kinh Man, Lạc Việt.
Mân ngữ của Mân Việt ở Phúc Kiến.
Giang Hoài ngữ: Việt Chiết Giang (U Việt)
Ngô Việt ngữ: bắc Giang Tô, Việt Chiết Giang
Điển và Kiểm ngữ: Vân Nam
Việt ngữ: Quảng Đông, Quảng Tây
Khi tôi dùng chữ Di Nho hay Việt Nho là tôi gồm cả 9 thứ người trong đó
với Chu Nho hay Hán Nho. Vì vậy đây chỉ là mặt trận giữa hai loại văn
hóa siêu quốc gia, chứ không có ý chính trị nứơc Tàu và nước Việt chi cả.
Trong khi nói Việt Nho cũng có ít nhất là 70% dân Tàu, là tôi nghĩ tới
một hiện tượng kỳ lạ không mấy ai để ý, tức nước Tàu không có tên
riêng, phải mượn tên Tàu là một nước của Tứ Di hay Nhung. Còn chữ
Trung quốc không là tên chỉ nguồn gốc hay dòng tộc chi cả, đó là tên nói
lên nguyện ước là “nứơc ở giữa” các nước khác “nước trung ương”, nó
nảy sinh tự tộc Hạ và tự đấy có đôi người gọi người Tàu là “Hạ dân”,
nhưng tên này không ổn lắm vì Hạ chỉ là mảnh đất “ước ao” hơn là có
thực vì nó ở mạn nam sông Hoàng Hà mà mãi đến đời thứ ba là TanKang
(-2188 đến –2159) “tộc Hạ” mới sang qua sông Hoàng Hà đóng ở
Zhenxun tỉnh Hà Nam (phía tây nam Gong district ngày nay, 121 Wu). Vì
thế khi ông Vũ đi kinh lược bốn phương rồi mà trở về tính sổ với các thần
thì phải đến “Cối Kê” kinh đô của U Việt nằm mãi phía đông nam bên
dưới Hoàng Hà xa lắm. Cho nên đã rõ truyện Đại Vũ trị thuỷ được các
nhà nghiên cứu Tây Aâu xếp vào loại huyền thoại nên tên Hạ không ổn,
đến nhà Chu phải thêm vua Hạ tiếng Hoa thành Hoa Hạ có nghĩa là vinh
hiển. Sau cùng chữ Hoa thay thế hẳn cho chữ Hạ (xem Wu 107-110 và Tả
truyện: Định công năm thứ 10). Như vậy chữ Trung trong Trung quốc và
hai chữ Hoa đều là hình dung từ chứ không là danh từ chỉ tên đất, tên tổ
chi cả. Điều đó ngầm chỉ rằng ít ra 70% người Tàu là gốc Di hay Việt.
Đấy là vài yếu tố cần đặt nổi để tránh những sự hiểu trái khoáy lịch sử
(anachronic). Vì không chú ý điểm này nên hầu hết các người chú thích
và dịch giả không chịu chấp nhận câu sách Mạnh Tử cho ông Thuấn là
người Đông Di, Văn Vương là người Tây Di, mà cưỡng dịch là “ông
Thuấn sống gần mọi Đông Di” làm như nói ông Thuấn là người Di là hạ
nhục ông mà không chú ý rằng lúc ấy chưa có ý niệm “mọi rợ” trong
tiếng Man Di, nên Mạnh Tử không ngần ngại nói lên việc “ông Thuấn là
người Đông Di, Văn Vương là Tây Di”. Cần ghi nhận là ý niệm rợ mọi đi
liền với Man Di mới manh nha dần tự đời Chu do sự việc giàu có sinh lễ
nghĩa. Nhờ nắm được chính quyền nên có thể áp đặt tiếng nói, tục lệ của
mình. Lại nhờ có sự học hành nhiều mới gây nên “văn hóa nhà Chu” mà
sự thực chỉ là Di Nho đựơc trau dồi, rồi thêm mấy nét du mục, mấy tập
tục của riêng vào mà thành ra, mới dần dần khinh Man Di vẫn còn quê
mùa ít học. Cần ghi nhận điều này kẻo không hiểu được cổ sử đúng vào
thời của nó.
Học giả James Legge đã hé nhìn ra chỗ trái khoáy này, nên trước kia ông
đã dịch câu sách trên là “Văn Vương là người sống gần mọi Tây Di”
nhưng đến quyển Kinh Thi thì ông viết: “Song le theo sử sách của chính
nhà Chu thì ta thấy tổ phụ của họ là Công Lưu cũng xuất phát từ các bộ
lạc nọ (tức Tây Di) và lập nghiệp ở đất Bân. Rất lâu sau họ mới chậm
chạp tiến lên văn minh rồi bỏ nơi cư ngụ cũ, thiên về phía đông nam để
va chạm với tộc Thương, và thiết lập ra Trung Quốc hay nước Tàu thời
sơ khai lúc đó. Còn những truyện móc nối giữa các tổ phụ nhà Chu với
ông Nghiêu ông Thuấn thì phải gạt bỏ khỏi phạm vi lịch sử có thể tin cây
được” (Legge IV.2). Theo gia phả nhà Chu thì Công Lưu là dòng dõi ông
Khí (sau con cháu phong làm Hậu Tắc) làm Bộ trưởng canh nông của ông
Thuấn, đựơc phong ở đất Thai (Thiểm Tây), sau ông Công Lưu (-1796)
thiên về đất Bân. Đến cháu 13 đời ông Khí là Cô Công Đản Phủ (-1325,
con cháu phong là Thái Vương) lại thiên về đất Chu ở miền núi Kỳ, quận
Phượng Tường… Xem đấy đủ biết cả nhà Chu cũng cố móc nối với ông
Thuấn “Đông Di chi nhân” chứ có kỳ thị chi đâu. Kỳ thị mới có về sau tự
đời Trung Chu trở đi, nhất là tự đời Hán, lúc nước Tàu đã thực sự lớn
rộng sau khi Tàu đã thôn tính cái miền mênh mông của Man Di gồm Sở,
Ngô, Việt.
Những dấu văn hóa của Tứ Di
Sau khi đã bàn qua về lãnh thổ của Di (gồm toàn cõi nước Tàu xuống tới
tận các đảo Thái Bình Dương) bây giờ ta bàn sơ qua về nội dung văn hóa,
như được biểu lộ xuyên qua những dấu đặc trưng sau:
1. Dấu đầu tiên là trọng bên tả, Kinh Thư ghi “tứ Di tả nhậm” có nghĩa
các Di đều bắt vạt áo bên tả, tức trọng bên tả, đối lại với Tàu trọng bên
hữu.
2. Dấu hai là bên tả đi với phương đông nam, chú ý số 2 và 3 ngược với
tây bắc số 4-1.
3. Dấu ba đi với trọng bên tả là trọng nữ, tức trọng nguyên lý mẹ, nên đặt
âm trước dương, ngược với nguyên lý cha đặt Càn trước Khôn (tức
dương trước âm).
4. Trọng số 5, ngược với Tàu trọng số 6.
5. Đã nói đến số thì phải nói đến bà Nữ Oa luyện đá ngũ sắc để vá lại
Trời, sau bà hóa ra chim tinh vệ, nên bà là người Di có tiên (chim) là họ
mẹ và rồng là họ cha. Tiên (chim) rồng vẫn đi đôi.
6. Phục Hy làm ra Kinh Dịch với số 2 và 3. Phục Hy có tên là Thanh Tinh
là rồng xanh.
7. Do đây có nét đặc trưng là huyền thoại mang dấu Lưỡng hợp (dualunit)
chỉ bằng số 2 như Nữ Oa, Phục Hy, Non Nước, Núi Sông, ông Cồ
bà Cộc v.v… Tôi gọi đó là nét song trùng.
8. Vật tổ: là chim và xà long mạn bắc, hoặc giao long man nam, chứ
không chỉ có một con như Tàu lúc đầu là bạch hổ.
9. Oâng Thuấn nổi về đức hiếu thảo, tức là đặt quan trọng về gia đình, sẽ
xây nước trên mẫu gia đình. Đây là điều rất lớn vì các nhà xã hội đã nhận
ra rằng ở đâu phát triển gia đình hay thị tộc thì đấy không có nô lệ, mà
không nô lệ kéo theo bình sản (chia của đồng đều).
Vài dấu bên ngoài
a) Ruộng nước, cấy lúa (dạo, rice) với gieo mạ (miêu). Tàu: ruộng khô,
lúa tắc với lúa mạch.
b) Tàu mạn tây bắc cưỡi ngựa, ngôn ngữ là Quan Thoại đại diện thị dân.
Di mạn đông nam đi thuyền, ngôn ngữ chính là Phúc Kiến, Quảng Đôn
đại diện thôn dân. Thôn dân thì vẫn theo Di Nho đến 90%. Còn Tàu thành
thị chỉ giữ Di Nho được quãng 60-70%.
Những dấu rên đây thường được biểu lộ qua truyền kỳ, huyền thoại, là
những dữ kiện không có giá trị lịch sử, thí dụ truyện Nghiêu Thuấn thì
nay không một học giả nào dám nhận là vua như xưa nay vốn truyền
tụng, nhưng vẫn được coi như những anh hùng văn hóa, hay là những
mẫu mực tinh thần do cuối đời Chu dựng nên. Rất nhiều truyện khác thí
dụ Hiên Viên, về ông Đại Vũ v.v… cũng phải xem như thế tức phải vượt
qua nghĩa lịch sử cũng gọi là hiện nghĩa (phéno-texte) để đạt ý nghĩa tinh
thần nội tại (genotexte). Vì thế độc giả sẽ thấy chúng tôi dùng khá nhiều
những huyền thoại là theo ý đó. Và cũng vì vậy không ghi xuất xứ kỹ như
sử học hay văn học, vì hê thống quy chiếu của huyền sử là các khoa tân
nhân văn như cơ cấu luận, uyên tâm, khảo cổ, cổ nghệ v.v… Phải nhờ
những khoa này mới đủ sâu sắc tế vi cũng như đủ chứng từ khách quan
để đi vào vùng huyền sử. Vì nó rất quặt quẹo: thí dụ nói là Tàu trọng bên
hữu mà trong sách vở lại không mãi như vậy: lúc trọng hữu, lúc trọng tả,
lúc Đông lúc Tây, số 3-2 cũng vậy. Thành ra là cả một sự thăm dò so
sánh lâu mới tìm ra. Xin đọc quyển “Hùng Việt Sử Ca”.
Văn hóa và văn minh
Những dấu trên (bên tả, số 2-3 v.v…) biểu thị một nền văn hóa đặc trưng
và rất vững mạnh có thể nói là ưu thắng. Chính với số 2 mà Di Nho có
một nét quân bình siêu việt, nhờ đấy sau này Khổng Tử được chọn làm
triết gia để dẫn đầu nhân loại (xem Đạo trường bài I) cũng như nhờ số 3
mà Di Nho nghiễm nhiên trở thành một nền nhân bản cao siêu đáng tôn
lên bậc nhân chủ an vi. Cũng như nhờ số 5 mà nền nhân bản này mang
tính cách tâm linh, cũng như trọng bên tả đem lại cho nền văn hóa này nét
tế vi ưu việt. Đây là nền văn hóa phương nam mà Khổng Tử bảo người
quân tử phải y cứ: “Nam phương chi cường dã, quân tử cư chi” (T.D 10).
Nói tóm lại với Di Nho ta đã có một nền văn hóa cao sâu xứng đáng được
các triết học gia quốc tế truy nhận và tôn lên bậc ưu thắng để dẫn dắt
nhân loại như đã bàn trước. Đến đời nhà Chu chỉ đưa vào mấy yếu tố văn
minh có tính cách tô điểm trang trí bên ngoài thôi nhưng ta cũng cần xét
qua.
Các dấu văn minh thì phải kể trước hết là quân đội nhờ đó có thể mở
mang bờ cõi rộng ra, một khi đất đã rộng dân đã đông thì dễ dàng thôn
tính các bộ lạc khác. Đây là yếu tố tương đối dễ ở chỗ thế nào cũng có
người giỏi về quân sự trong một bộ lạc nào đó, thế là họ thôn tính thêm
một bộ lạc nữa. Khi đã có hai thì dễ thêm ba, bốn, năm, và thế là thành
hình một “nước” rồi một một nước tất nhiên phải có Vua, tức một tù
trưởng cỡ bự. Nước càng lớn thì quyền vua càng cao, thế là nảy ra sự tôn
thờ vua đến độ tuyệt đối là Vua Thần.
Một khi có vua là phải có pháp luật thay cho lệ tục. Lệ tục là của riêng
một bộ lạc, hay bộ tộc; còn nứơc quá lớn phải có pháp luật chung. Đã có
luật tất phải có hình để trị tội những kẻ lỗi luật v.v…
Đã có pháp luật, phải có chữ viết để truyền đi xa. Văn tự đã có từ đời
Thương và cả trước nữa như chữ con quăng và chân chim nhưng càng
ngàycàng phát triển. Thế là mấy yếu tố quân đội, vua, luật pháp, chữ
nghĩa hợp lực nhau làm cho văn hóa Man Di trở nên rực rỡ uy nghi, đến
nỗi người ta tưởng là khác. Nhất là khi đã “phú quý sinh lễ nghĩa” phú
quý càng cao lễ nghĩa càng trở nên phức tạp. Có hai điều nổi bật một là lễ
nghĩa tôn Vua. Vua Tàu chưa đến nỗi là vua thần như bên Babylon,
nhưng cũng đã được tôn lên bậc “thiên tử” là người của Trời, có thiên
mệnh cao xa, khiến người dân không được xem mặt. Xem thì phạm nhan
có thể bị giết và nhiều nghi lễ khác…
Điều hai thuộc về hôn phối, vua đặt ra quan môi với những nghi lễ kềnh
cơi để kiểm soát việc cưới hỏi. Tứ Di cứ theo lệ tục riêng như trong hát
trống quân, cô cậu nào ưng nhau là lấy nhau khỏi bị lễ nghĩa ràng buộc.
Phép đó gọi là bôn. Triều đình rất ghét thói tự do đó nên gọi là “dâm
bôn”. Khi nhà vua Tàu chê Tứ Di là thiếu lễ nghĩa cần được “đức hóa” thì
chẳng qua là muốn bắt dân Di theo mấy tục lệ riêng của mình cho ra “văn
minh” vậy thôi, nghĩa là mấy cái lễ nghi bề ngoài đó.
Văn hóa của Tàu với Di vẫn là một, khác nhau chỉ vì những cái bên ngoài
đó. Tàu “văn minh” hơn ví như người giàu sang ở tỉnh thành, lễ nghĩa đầy
mình, nhưng bên trong có ít nhiều nhân vi trá nguỵ. Di Nho thì như người
nhà quê, học hành ít, lễ nghĩa đơn giản nhưng đầy chân tình, song vì đời
sống xuềnh xoàng thoải mái nên bị thị dân (triều đình) chê là quê mùa,
man di, mọi rợ. Đó toàn là những cái bên ngoài chứ văn hóa thì là của
chung cho các quý tộc lẫn dân gian. Quí tộc truyền dòng nối dõi không
tồn tại được, sẽ có kẻ sĩ thay vào, mà kẻ sĩ thì tự dân mà lên, chứ không
có văn hóa riêng của quý tộc như bên La Hy hay Aán Độ. Quý tộc nhà
Chu cũng chỉ học với Di, rồi sau làm cho Di Nho nên rực rỡ để mang tên
Hán Nho.
Về văn hóa thì Chu Nho kể là có công ở chỗ làm cho Di Nho trở nên rõ
ràng, san định sách vở, đặt thành câu văn rành mạch, tôi gọi là “công thức
hóa”. Thí dụ Di Nho làm bánh dầy tròn bánh chưng vuông, thì Chu Nho
sẽ nói “thiên viên địa phương” để dễ truyền bá, tiện lập khoa cử, chứ về
nội dung sâu xa thì không thêm được gì cả. Vì thế gọi được Di Nho là
thời sáng tạo, Chu Nho chỉ là thời phát triển còn Hán Nho là thời ăn tự và
truyền bá cũng như làm hư hỏng.
Cũng có thể gọi lối khác:
Di Nho là tinh thần
Chu Nho là văn hóa
Hán Nho là chính trị.
Hai thứ Nho sau, nhất là Hán Nho sẽ làm hỏng cái tinh thần là Nho rất
nhiều, như được ám chỉ bằng nhiều huyền thoại chẳng hạn truyền thần
Cộng Công húc đầu vào núi “bất Chu chi sơn” làm nghiêng trời. Truyện
Long Bá ăn trộm rùa làm chìm đảo tiên, vụ Hoàng Đế chiếm chỗ Nữ Oa
khiến Nho gần mắc bệnh duy dương, vụ “hậu thiên bát quái” đảo lộn
Kinh Dịch mà chúng ta sẽ phân tích sau, cũng như cụ thể là vụ Gác
Thạch Cừ xem giặm vào Kinh sách những yếu tố đàn áp chuyên chế (xem
trong quyển Cửa Khổng chương 3).

Tóm lại nếu muốn chấn chỉnh lại đạo Nho để cho nó đủ khả năng dẫn đạo
nhân loại như hội nghị quốc tế triết năm 1949 đã truy nhận là Nho có khả
năng đó thì phải vượt qua hai giai đoạn Hán Nho, Chu Nho bằng vạch
trần những sai lầm của hai giai đoạn đó để vềvới Di Nho. Di Nho thường
bị coi là man rợ nhưng sự thực thì đó là thứ Nho còn đầy chất sáng tạo,
tức nhiều chất tâm linh phát xuất thẳng tự tiềm thức cộng thông, hơn hẳn
hai thứ Nho sau đã đầy chất nhân vi, lý trí nên đã kết tinh thành hệ thống
cứng nhắc, kèm theo những định chế hết hợp thời, làm cho người học khó
có thể kiến thiết được gì mới vớithứ Nho đã kết tinh nọ. Đang khi Di Nho
hãy còn âm u man mác với những huyền thoại, truyện tích những lược
đồ, số độ. Đó là bấy nhiêu những khuôn rỗng, người học bó buộc phải
tìm ra những tư tưởng mới để đổ đầy. Đây chính là một lối thúc đẩy tạo
dựng, dễ giúp cho học giả đem ra một thứ Nho sống động hơn, hợp cảm
quan thời đại hơn, có thể gọi là Việt Nho, theo nghĩa là siêu Việt.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s