TỪ HOÀNG DỊCH ĐẾN CHU DỊCH

Dịch là sách có một địa vị hi hữu trong văn hóa loài người ở chỗ đã duy
trì được nền tảng của văn hóa nguyên thuỷ, tức cũng là văn hóa chính
trung gồm cả hai bên: trong ngoài, trên dưới, tả hữu… tức là cân đối cùng
cực.
Đang khi đó hầu hết các văn hóa đều sa đọa vì nghiêng về một bên. Điều
này cũng xảy ra cho Kinh Dịch như được ghi trong Hậu thiên bát quái,
nên hậu thiên bát quái có thể coi như dấu chỉ đường đi sa đọa. Vì thế
nghiên cứu về quá trình hình thành của Kinh Dịch cũng là nghiên cứu về
tiến trình văn hóa nhân loại nói chung: cả về tiến bộ lẫn sa đọa.
Dịch Kinh gồm 5 giai đoạn hình thành như sau:
– Giai đoạn 1: Dịch của Trời Đất, tức những huyền thoại có nét song
trùng như đực cái, núi sông, tiên rồng, nứơc lửa, ông Đùng bà Đà.
– Giai đoạn 2: Dịch của Phục Hy thành bởi:
a. Hai gạch đứt: – – / – – hay số chẵn lẻ
b. Rồi chồng 2 nét lên nhau thành ra tứ tượng. Đoạn chồng lên một nét
nữa thành ra quẻ đơn có 3 gạch. Ba gạch đó hàm ngụ số 2 âm dương với
số 3 Tam tài.
c. Tất cả có 8 quẻ đơn và đựơc xếp đặt theo hình bên sau gọi là tiên thiên
bát quái: hãy đọc theo số Kiền 1, Đoài 2, Li 3, Chấn 4, Tốn 5, Khảm 6,
Cấn 7, Khôn 8.
Hình Tiên thiên bát quái
– Giai đoạn 3: Dịch của ông Đại Vũ thêm vào số 5 là ngũ hành được đặt
nổi, với số 4 thành thì hóa ra 9, nói bóng là “Vũ chú cửu đỉnh” = ông Vũ
đúc được 9 cái đỉnh. Đó là câu nói ghi giai đoạn thứ ba của Kinh Dịch có
vòng trong vòng ngoài như hình sau:

Hình này sẽ là gốc cho các hình đồ kép khác như Hồng Phạm, Cửu
Trù, Hà Đồ, Lạc Thư, Minh Đường v.v… như sẽ nói dưới.
– Giai đoạn 4: Dịch Văn Vương thêm Hậu thiên bát quái. Nó ở tại đặt lộn
thứ tự bát quái của tiên thiên thành ra hình như sau:
Hình Hậu thiên bát quái
Và từ đấy thì bắt đầu có lời gọi là hệ từ nghĩa là lời treo, tức lời đặt sau
64 quái để giải nghĩa.
– Giai đoạn 5: Dịch Khổng Tử thêm thập dực tức là 10 phụ trương, trong
đó đáng kể nhất thì có thuyết quái và Hệ từ thượng hạ, nhằm nói lên ý sâu
xa của Kinh Dịch. Đó là 5 giai đoạn hình thành Kinh Dịch.
Ba giai đoạn trước tôi cho là thuộc Việt tộc vì các lẽ sau:
1 – a. Các huyền thoại có tính lưỡng hợp (dual unit) thuộc miền Đông
Nam Á mà Việt là đại biểu nổi nang cũng như đất Việt Nam là ngã ba các
nền văn hóa gặp gỡ.
b. Nét song trùng là cột trụ của Kinh Dịch thì gặp thấy tràn ngập ở
miền Việt, cũng như tìm được trước hết ở Bắc Sơn trong 2 gạch chạy
song song. Khảo cổ Tàu không có ít ra rõ nét như vậy.
2. Thứ đến giai đoạn hai cũng thuộc Việt, vì:
a. Phục Hy là người gốc Việt có họ rồng nên Phục Hy cũng có tên là rồng
xanh (thanh tinh). Vậy mà rồng là của Việt tộc trước hết. Tàu chỉ mới
nhận rồng từ đời Hán.
b. Lối xếp đặt cũng Việt tức trọng tả là đặt âm trước dương, nét đứt trứơc
nét liền.
c. Số ba gặp thấy nơi Việt trước như nhà sàn (ba cấp), 3 đầu rau, bộ ba cái
chạc (đồ tuỳ táng bao giờ cũng đi theo bộ ba…) Việt tộc cũng có cái
mang tên là Tam Miêu là người có cánh như chim (mà chim là Việt) và
dẫn đầu liên đoàn các dân gọi là Cửu Lê (số 9).
d. Số 5 kép bởi 2 cộng 3 cũng thấy ở Việt trước: rõ nhất là các bình đèn
có hai tai ba chân tìm được ở Phùng Nguyên. Tuy có thấy ở cái lịch bên
Tàu trên Long Sơn, nhưng Long Sơn nay được khám phá chịu ảnh hưởng
từ phía Nam.
e. Ngôn ngữ học nhận thấy tiếng Nam Á (Austroasiatic) ưa số 5, 10, 20,
Tàu quý phái ưa số 6. Tàu nhà quê (gốc Việt) ưa số 5 (Danese 6).
3. Thứ ba Dịch Đại Vũ đúc 9 đỉnh cũng là Việt. Số 9 gọi là đăng cao ngày
mồng 9 tháng 9 lên núi, nói là để hái hoa vạn thọ đặng sống lâu, mà nghĩa
ẩn tàng là để ôn bài học nằm trong số 9, cũng gọi là “Cửu thiên huyền
nữ”, hay là 18 đời Hùng Vương (2*9=18). Hùng Vương đựơc cưu mang
ba năm ba tháng (3*3=9) là theo lý đó. Quốc Hoa Việt là Nhật Quỳ cũng
phải có 9 cánh (Quỳ: cửu đạt chi đạo = quỳ là nơi thông hội của 9 con
đường). Số 9 có căn 3 nên Con Cóc Việt (thuộc nông nghiệp vì làm mưa)
phải rụng một chân mới được làm cậu ông Trời: chỉ còn có 3 chân, nhưng
nhớ 3 là căn số 9. Vì số 9 là của Việt nên có tên gọi là Cửu Lạc, người
Mưỡng gọi phép bói bằng rùa là chí rò (9 rùa). Số 9 nhân với 2 thành ra
18:
Bàn Cổ cai trị 18.000 năm
18 đời Hùng Vương
Thánh Dóng cưỡi ngựa 18 thước cao.
Đoàn hát Li Vưu có 81 người (9*9=81)…
Chính vì sự gắn bó với hệ thống 9 (nói hệ thống vì nó gồm các số 2+3=5
và 5+4=9) mà sau Cửu Lạc được Nho biến ra thành Lạc Thư và Hồng
Phạm Cửu trù, tất cả đều theo một lối xếp đặt như Cửu Lạc nghĩa là theo
chiều tả nhậm (vòng khắc). Xem các hình dứơi đây sẽ nhận ra điều đó.

Hình 1. Hà Đồ
Hình 2. Lạc Thư
Hình 3. Cửu Trù Hồng phạm
Bắt đầu nhận cho kỹ các số vòng sinh (hình 4) đi từ số 4-1-3-2-5. Rồi
vòng khắc (hình 5) đi từ số 1-2-4-3-5.
Đoạn xem lên Lạc Thư hình 2 thấy vòng khắc số 1-6-7-2-9-4-3-5 (các số
6, 7, 9, 8 là số thành nên trừ 5 thì ra 1, 2, 4, 3 tức là lối xếp của vòng
khắc. Đó là lối tiến chính của Kinh Dịch. Vì “Dịch nghịc số dã” (thuyết
quái, câu 2). Do lẽ đó Lạc Thư đi theo vòng khắc nền giữ vai chính, vì
làm mẫu cho cả Hồng Phạm và Cửu Trù. Còn Hà Đồ (hình 1) đi theo số
sinh, “hữu nhậm” vòng ngoài (tiện theo tay phải xuôi kim đồng hồ).
Đại để đó là những phát triển đến cùng tột của giai đoạn Dịch Việt, sau
được Tàu đưa vào Chu Dịch (1), nhưng nhiều sách nhận xét là Lạc Thư
Hồng Phạm v.v… không thuộc Dịch, thì nên hiểu là không thuộc Chu
Dịch là cái chỉ đến sau, khi những nền móng chính của Dịch đã hình
thành xong gồm Âm Dương, Tam Tài, Ngũ Hành với ba nhóm chân lý
trọng đại đi kèm theo. Đó mới là nền móng thâm sâu của Dịch Kinh linh
thể, Dịch tiên thiên, cũng là Dịch chính trung và chỉ được tâm truyền chứ
không viết ra, không có lời.
(1) Cũng có thể nói là không thuộc Nho khi hiểu Nho là Khổng học. Vì
Khổng tuy có tiếp nhận được đạo lý Dịch là nhân đạo, nhưng không biết
đến cơ cấu ngũ hành, tam tài, âm dương. Cả Khổng cả Mạnh không hề
nhắc đến những chữ đó, nên đoán được rằng ba bộ cơ cấu này chỉ đựơc
rước vào Nho đời Hán mà thôi. Có thể vì Khổng Tử như người đi chữa
nhà cháy, ông chỉ cứu được bức ảnh mà không cứu được cái khảm ảnh,
tức chỉ cứu được có đạo lý bằng từ, mà không cứu được cơ cấu bằng số.
Vì thế sau đạo Nho bị nhàu nát (vì không có khung để che chở).
Còn việc Tàu học được Dịch Việt thì được huyền sử hóa bằng truyện ông
Vũ lấy vợ Việt, ẩn nghĩa là ông học được văn hóa nông nghiệp của Việt,
là văn hóa đề cao nguyên lý mẹ, gọi bóng là “Cửu thiên huyền nữ” (Cửu
là số 9), nên Lạc Thư cũng gọi là sách Mẹ. Truyền thuyết nói rằng: khi
vua Vũ trị được thuỷ rồi (nghĩa đen là ngăn lụt, nghĩa bóng là trị nước
theo Cửu Lạc) thì có con rùa thần đội văn, trên lưng có các số từ 1 tới 9.
Vua Vũ bèn nhân đó mà xếp thứ tự thành ra 9 trù (cửu trù). Vậy Cửu Trù
là Lạc Thư, trứơc nữa gọi là Cửu Lạc, người Mường gọi là chí rò. Hùng
Vương thần phục 15 bộ nước Văn Lang là cai trị theo sách mẹ (Cửu Lạc)
vì đem các số Lạc Thư mà cộng bất cứ chiều nào: ngang, dọc, xéo đều
đựơc số 15. Tất cả những điều này đều xảy ra trước nhà Chu. Nhà Chu
chỉ xuất hiện vào thế kỷ thứ 12 trước công nguyên mà thôi, và từ đấy mới
có Chu Dịch với hậu thiên bát quái. Ta hãy nghiên cứu giai đoạn này
xoáy vào hậu thiên.
4. Giai đoạn 4 của Văn Vương có 3 điều khác: một là đặt quẻ Kiền trứơc
Khôn, hai là dùng số 9, ba là hậu thiên bát quái. Ta sẽ tìm hiểu 3 điểm dị
biệt nọ.
Trước hết cần nhận diện các quẻ với tên và nghĩa chung. Xin nhớ số thứ
tự các quẻ theo tiên thiên.
8 Khôn = Đất (Mẹ) 4 Chấn = Sấm (Trai 1)
7 Đất = Núi (Trai 3) 3 Li = Lửa (Gái 2)
6 Khảm = Nước (Trai 2) 2 Đoài = Hồ (Gái 3)
5 Tốn = Gió (Gái 1) 1 Kiền = Trời (Cha)
Các chữ cha, mẹ, con trai, gái đặt trong ngoặc, vì thuộc hậu thiên. Nên
ghi nhận khi xếp quẻ thẳng thì lấy nét dưới làm nền, thí dụ quẻ Chấn thì
nền là nét liền, nên là quẻ dương. Ngược lại quẻ Tốn là âm. Còn khi xếp
theo vòng tròn, thì lấy nét trong làm nền theo nguyên lý “nữ nội nam
ngoại”.

Bây giờ hãy so hai bảng tiên thiên và hậu thiên để nhận ra những điều sai
biệt:
Hậu Thiên Bát Quái
Tiên Thiên Bát Quái
Điều nổi bật trứơc hết là trong tiên thiên bát quái có sự cân đối trọn vẹn:
Trời đối Đất (bắc nam) nứơc đối lửa (đông tây), sét đối gió, hồ đối núi.
Hậu thiên chỉ còn 2 cặp đối đáp tuỳ là “li khảm” và “chấn đoài”.
Thứ đến tất cả 4 mối liên hệ đều đi qua Thái Cực, mà Thái Cực được chia
ra 2 mảng Âm bên đông, Dương bên tây. 4 quẻ nền âm đứng bên Đông, 4
quẻ nên dương đứng bên Tây (bên hữu).
Nếu vẽ ra thái cực viên đồ bên âm bên dương thì ta dễ thấy được mối
tương quan căn bản của cơ cấu, tôi gọi đó là cơ cấu uyên nguyên vì 4 cặp
đối đáp đều đi qua Thái Cực. Trái lại ở Hậu thiên trời đất mất đối đáp, vì
Kiền Khôn tức thiên địa bị xếp cả sang một bên, nên mối liên hệ không đi
qua Thái Cực. Thế là gây ra 3 loại tai họa như sau:
Một là mất Tương Quan nền tảng xuyên qua thái cực: mất cơ cấu uyên
nguyên là mất hết nửa những cái cân đối như giữa càn khôn.
Hai là cha sang bên tả của mẹ, mở đầu phụ quyền lấn át mẫu quyền, cũng
như thứ tự tả hữu bị phá luôn.
Ba là thứ tự các số cũng xếp khác đi làm mất hai chữ giao chỉ. Đây là ba
điều quan trọng vô cũng như sẽ nói sau. Ta hãy bàn từng điểm một.
Trước hết là cơ cấu uyên nguyên
Cơ cấu ở tại sự đối đáp giữa hai đối cực như nứơc lửa, đất trời, sông núi
v.v… Còn uyên nguyên là khi mối liên hệ giữa hai bên gặp nhau trong
vòng Thái Cực. Mà Thái Cực cũng là Vô Cực, nên Vô Cực là hồn, là
thần, là căn nguyên của mọi cuộc thống nhất: đã trật ra ngoài cơ cấu uyên
nguyên thì chỉ còn là bì phu. Như Kiền Khôn trong hậu thiên không đi
qua được Thái Cực mà chỉ gặp nhau ở ngoài chu vi, quen gọi đó là không
thể vào được trung cung hay không lên được Trời, như được ám chỉ trong
huyền thoại Cộng Công húc đầu vào núi Bất Chu chống trời, làm trời sụt,
khiến nên cảnh “thiên bất túc tây bắc, địa bất mãn đông nam” nghĩa là
thiên không đủ ở tây bắc (vì đã đưa Kiền sang phía đông), địa bất mãn
đông nam. Vì đông nam là phần đất mẹ đã bị quẻ Kiền sang xâm chiếm.
Đó là nguồn gốc của duy vật được nói bóng là không vào được trung
cung.
Nói theo tâm lý thì Dịch Việt (cũng gọi là tiên thiên hay nguyên thuỷ) đạt
đựơc tiềm thức tâm linh biểu lộ bằng mối liên hệ giữa hai hạn từ bao giờ
cũng đi xuyên qua trung cung (là tiềm thức tâm linh) hậu quả sẽ là có
Biểu tượng như những huyền thoại chứa nét song trùng: đực cái, tiên
rồng v.v… Còn Dịch Văn Vương thuộc lý trí vòng ngoài nên liên hệ giữa
hai hạn từ không đi xuyên qua trung cung tiềm thức, mà chỉ do ý thức,
nên gọi là Hậu thiên và như vậy không còn là Tiêu biểu nữa (symbol) mà
chỉ là ẩn dụ (allegory). Tiêu biểu phát xuất tự tiềm thức còn ẩn dụ thuộc
lý trí bày ra. Ý thức không đạt liên hệ cơ thể với tâm linh, nên mất đi
hầau hết hiệu nghiệm thường đi kèm với Tiêu biểu. Từ đấy hầu hết các
quẻ chỉ còn là một trò chơi lý trí suông, đã xa lìa sự thực thâm sâu rồi.
Thế mà 64 quái chiếm trọn Kinh Dịch, đến nỗi nhiều sách không in phần
thập dực. Mà chính ra thập dực cố cứu vớt lại phần nào cái ý nghĩa sâu xa
của Dịch. Nay bỏ thập dực mà chỉ chuyên có 64 quẻ, thì chỉ còn là một
việc tầm phào. Chính vì chỗ này mà học giả Needham lên án những hậu
quả tai hại do Kinh Dịch. Xem Needham II.335.
Điểm hai là cha lấn quyền mẹ. Trong tiên thiên bát quái cha đứng đầu 4
quẻ dương đặt bên hữu, còn mẹ đứng đầu 4 quẻ âm bên tả, nay đặt Kiền
sang phía âm là cha chiếm chỗ của mẹ. Việc này được phản chiếu trong
vụ Hoàng Đế chiếm chỗ bà Nữ oa (xem Việt Hùng Sử Ca chương XI, Vụ
án Nữ Oa Thái Mẫu bị hiếp dâm) cũng như Đông cung thái tử. Thái tử lẽ
ra phải ở bên hữu theo lệ của Việt: “gái tả phòng, nam hữu phòng”, sao
lại lớ rớ sang bên đông làm gì. Đó là lấn át, chứ theo Việt thì âm trước
dương: gái mới được ở Đông cung. Theo lệ gái trước trai đó nên mỗi khi
đúc trống xong mà đánh khai mạc thì phải là các bà. Tư tế của Việt cũng
là các bà.
Xưa kia gái ve trai là sự thường: người đàn bà Ra Đê còn nói đi “bắt” cái
chồng. Mỵ Nương quyết định lấy Chử Đồng Tử là đúng sách Việt. Lúc
xưa các bà nổi lắm, cả về sáng chế nông nghiệp hầu hết cũng do các bà:
bà Giàn, bà Đậu, bà Dâu, bà Nành, bà Đà trồng cây rú…
Bây giờ bàn đến thói quen trọng bên tả: bên tả đi với nữ, bên hữu đi với
nam. Việt tộc trọng tả. Tàu ban đầu trọng bên hữu, sau theo Việt cũng có
lúc trọng bên tả. Trong Kinh Lễ ta thấy đầy dấu vết Việt trội hơn Tàu,
như khi đi đường nam bên hữu, nữ bên tả (Đạo lộ nam tử do hữu, nữ tử
do tả. Lễ Ký, thiên Nội Tắc).
Khi tiếp khách chủ phải nhường khách ngồi bên tả, chủ bên hữu.
Thói tục trọng bên tả có lẽ xuất hiện do việc quan sát bầu trời trăng sao
cho người ta cảm tưởng nó xoay quanh sao bắc đẩu theo chiều ngược kim
đồng hồ. Vì thế gọi tả là bên Trời, hữu là bên Đất. Bên tả chỉ văn hóa nên
trường học đặt bên tả, còn bên hữu chỉ võ lực, chỉ nhà binh. Tàu du mục
nên trước trọng bên hữu, Việt trọng văn nên đề ca bên tả. Kinh Thư ghi
“tứ Di tả nhậm” = Tứ Di cũng như “Tứ Hải” đều chỉ các dân ngoài Hoa
tộc, tức là Việt tộc, tất cả đều trọng bên tả, nên những gì xếp theo thứ tự
này phải kể là của Việt, như Phượng Hoàng là của Việt vì Phượng là con
cái đi trước Hoàng là con đực, đúng thứ tự âm trước dương. Cũng như
phải nói như thế về các chim quen xếp cánh bên tả: Lạc Địch và Tất
Phương. Hai đàn cầm sắt cũng vậy: đàn cầm 5 dây do bà Nữ Oa sáng tạo.
Đàn sắt dây do vua Phục Hy to hơn nên là dương vòng ngoài.
Còn việc tả hữu đi với đông tây là do ngày xưa ngừơi ta định hướng theo
lối quay mặt phía Nam thì sau lưng là Bắc, bên tả là Đông bên hữu là
Tây. Do đấy ta có thêm một dấu để nhận diện Việt. Việt trọng bên Đông
như khi chôn người chết thì theo hướng Đông tây. Người Chàm Châu
Đốc còn giữ tục này (xem Nếp Cũ tr.265). Làm nhà có lễ Thượng Đông
tức lễ đặt đòn nóc quay đầu hướng Đông. Sau khi làm lễ gia quan, cha mẹ
sang đứng bên thềm tây, nhường thềm bên đông cho con dâu, để tỏ dấu
giao lại quyền nội tướng (Li Ki 610). Đứng chầu vua thì tam lão đứng
bên đông.
Khi tế Thái Miếu thì vua đứng bên đông (Li Ki 425). Khi vua tế phải để
trần vai tả gọi là tả đản. Có khi chỉ nói đản (CA. 211)
Tóm lại phía Đông hay bên tả đã thắng, tức là văn hóa Việt đã cải đổi văn
minh Tàu. Tàu đã dần dần chấp nhận văn hóa Việt, chỉ có vài phản đối
nho nhỏ, chẳng hạn gọi tay tả là sái quấy như trong chữ “tả đạo”. Kiểu
nói gọi tay chiêu là tay trái, còn mục là tay phải, cũng như tự xưa của Tàu
còn sót lại. Nhưng trừ vài phản đối đó thì toàn thấy âm trước dương tức
Tàu đã bị văn hóa Việt chinh phục Tàu này chỉ xảy ra đời Aán. Còn đến
đời nhà Chu thì xuất hiện vụ “hậu thiên bát quái đồ” với thứ tự dương
trước âm (Càn trước Không) cha lẫn mẹ như đã nói trên, để rồi đến đời
Hán thì khởi cuộc Tàu thắng Việt. Tàu thua văn hóa, nhưng thắng về văn
minh. Tuy nhiên khi ghi lại thứ tự các hành hay các quẻ thì nên theo lối
xưa kẻo gây lộn xộn. Mà cái mất lớn nhất là đặt tả sang tay mặt.

Điểm thứ ba về các số
Số của Dịch Tàu cũng gọi là Chu Dịch là cặp số 9-6 tức gọi hào dương là
cửu (9) còn hào âm là lục (6). Khác với Dịch Việt cũng gọi là Dịch Quy
Tàng đời Aân, dùng cặp số 7-8. Để thấy rõ hai bộ số nọ biểu thị nguồn
của Việt và Tàu ra sao ta hãy ôn lại các số theo cung ngũ hành xếp đặt
như sau:

DỊCH QUI TÀNG
Bảng trên chỉ rõ Việt nhận phía Đông Nam hay 3-2 như câu Kinh Dịch
“tham thiên lưỡng địa nhi ỷ số”. Còn Tàu nhận Tây Bắc với bộ số 4-1.
Nếu ta đưa số 9-6 trên kia trừ số 5 số sinh, thì ra 4-1 hay Tây Bắc. Còn 7-
8 trừ 5 thì ra 2-3 (vài ba) tức là số của Việt tộc. Dịch đời Aân mà Khổng
Tử còn gặp nơi nứơc Tống được gọi là Khôn Càn, tức Khôn trước Càn
theo thứ tự âm trước dương. Như vậy Dịch Quy Tàng với số vài ba (2-3)
là Dịch của Việt tộc đó.
Có một người đoán cả Dịch Liên Sơn của Phục Hy cũng theo số 7-8 này
(xem CA 367 note 2). Hai số 7-8 tức là hai số 2-3, mà 2 với 3 gặp nhau vì
không có gì ngăn cách nên gây ra được cảnh Thái Hòa, trái lại 4-1 thì
không vì bị hai số 2 cộng 3 ngăn cách, đành đứng trong cảnh thiên lệch 4
đất 1 trời, nên nói “thiên bất túc tây bắc” là vậy. Vì thiên chỉ có một (1)
đang khi bên Đông thiên là số ba (3). Trái lại địa bất mãn đông nam vì địa
chỉ có hai (2 ) đang khi phía tây là 4. Nên nhớ ba bộ số 2, 3, 5 chỉ những
chân lý nền tảng gốc rễ (số 2 chỉ biến hóa, số 3 nhân chủ, số 5 tâm linh)
mà nền văn hóa nào thiếu thì kể là mất gốc. Chính trong ánh sáng đó mới
hiểu được câu nói của triết gia José Ortega y Gasset chỉ về Tây Aâu cho
là đã mù quáng thâu nhận nền văn hóa huy hoàng nhưng thiếu gốc, nên
nay đang thâu hoạch hậu quả đau thương: “Europe is now reaping the
painful results of her spiritual conduct. She has adopted blindly a culture
which is magnificent but has no root (The revolt of the Masses p.189).
Tình trạng này suýt nữa Hán nho mắc phải do “hậu thiên bát quái” của
Văn Vương. Mayt hay nhờ có ảnh hưởng Di Việt còn lại sâu đậm, nên đã
không rơi hẳn vào số 4-1, nên còn làm nảy sinh ra được những tổng hợp
giá trị như của Tống Nho, nó gắn với triết lý cơ thể hơn bất cứ nền triết
nào. Cũng như đã gợi hứng cho Leibniz nghĩ ra đựơc lối toán hai số
(binary) để làm nảy sinh toán điện tử. Cũng như các cơ cấu Kinh Dịch
hợp với khoa vi thể ngày nay hơn bất cứ triết lý nào, hợp tới 5 bước, đang
khi các đạo lý khác nếu có hợp cũng chỉ được một cùng hai, vì không hạp
cơ cấu (như trong ngoài, vòng sinh vòng khắc, lỗ đen, vũ trụ nở ra bóp
vào, vũ trụ tiện thị ngô tâm v.v… Có bàn rộng trong Chữ Thời bài I).
Xem thế đủ thấy ảnh hưởng Kinh Dịch rất sâu xa.
Tuy vậy đó mới là thành tựu trong ngoài, chưa phải mục tiêu chính của
Dịch. Mục tiêu chính là “giao chỉ” tức phải liệu sao cho chỉ đất (ý thức)
giao thoa với chỉ trời (tiềm thức tâm linh). Bởi vậy cần bàn thêm đường
lối của hai chữ này.
Chữ Giao Chỉ theo nghĩa uyên nguyên của Dịch là chỉ trời và chỉ đất giao
thoa nhau như có thể thấy trong hình các quẻ xếp theo tiên thiên bát quái
kèm theo: bên hữu khởi từ 1 đến 4, bên tả khởi từ 5 đến 8. Bên hữu chỉ
đất hay ý thức vòng ngoài.

Bên tả chỉ trời hay ý thức vòng trong. Khi hai chỉ giao thoa thì mọi sự
hanh thông. Độ giao thoa tốt nhất là 2 đất 3 trời, theo câu “vài ba tham
lưỡng”. Đựơc như vậy thì có Minh triết. Phần nhiều con người dùng toàn
ý thức, ý chí vòng ngoài (chỉ bằng 4-1) mà bỏ bê vòng trong tiềm thức,
tâm linh nên không đạt 2+3=5.
Kinh Dịch đưa ra đường lối phát triển sự giao thoa nọ. Hai chỉ có thông
hội với nhau đựơc hay không là tại ý thức. Ý thức mà phát triển quá đáng,
chuyên đề cao những cái ý, tình, chí bé nhỏ, đến độ chỉ còn thấy có
những cái tư riêng, cá thể thì sẽ mất cảm nghiệm về cõi tiềm thức tâm
linh, rồi rơi vào duy thức tức là duy vật. Tiên Nho nói “ngoạn vật táng
chí” tâm chí quá bám vào sự vật không thể vươn lên cõi đạo.
Muốn cho hai chỉ giao thoa thì con người phải dẹp bớt phần ý thức (mà
tôi tóm vào ba chữ ý, tình, chí) để lòng trí được trống rỗng, cho tiềm thức
tâm linh có đất trồi lên (giô lên) mặt ý thức, hầy ý thức thấu vào đựơc cõi
tiềm thức bao la. Mỗi lần giao thoa được như vậy gọi là được linh hứng,
hoặc được ơn trời mặc khải và đó là những bước tiến trên nẻo đường
thăng hoa của tâm hồn. Dịch chú ý phát triển điều đó bằng những câu như
“an thổ, đôn hồ nhân, cố năng ái” = an thổ là lòng trí không nghĩ gì hết
(Dịch vô tư dã, vô vi dã), đây gọi là An thổ, vì hành thổ cũng gọi là “hành
vô hành, địa vô địa” tức là hành không có mùa riêng, phương riêng hay
nói là nó vượt thời không bé nhỏ cũng vậy. Vì thế phải đi xin 4 hành kia
một tuần cuối để làm vốn là quy có nghĩa như hoa quỳ là quy hướng, hiểu
là để lòng quy hướng về nguồn cội. Đó là gốc mọi đạo lý trung thực.
Phép “an thổ” này cùng với tứ quý đã được cụ thể hóa qua thể chế nhà
Minh Đường với nguyệt lệnh là để thi hành câu an thổ, hay là “Dịch vô tư
dã, vô vi dã”. Nhà Minh Đường lấy khung của Cửu Lạc gồm có 4 chương
4 hướng như hình
I II III

Rồi chia 4 phương làm đôi thành 8 cá (cá thể: tức làm cho ra nhỏ hơn
nữa). Hình II 8 cá cộng với 4 hướng thành ra con số 12 để hợp cho 12
tháng. Hình III và gọi là nguyệt lệnh: nghĩa là mệnh lện phải thi hành
trong tháng, thí dụ 3 tháng xuân phải ở phòng đông, mặc áo xanh, ăn đồ
ứng hạp (xem nguyệt lệnh). Tháng quy tức tuần cuối mùa (cuối tháng 3,
6, 9, 12) thì vào ở trong cung Hành thổ gọi là “an thổ”. Để làm gì?
Thưa để “đôn hồ nhân” là trở về chỗ sâu thẳm lòng mình bằng cách “vô
tư dã, vô vi dã”, đặng đạt khả năng yêu được mọi người (cố năng ái) tức
là đạt cốt tuỷ của đạo lý chính trung. Vì muốn yêu được người phải vượt
qua được các phân biệt thuộc cá thể, như giàu nghèo, nam nữ, tôn giáo,
giống nòi… để cảm nghiệm được bản thể Con Người Đại Ngã tâm linh
cùng với thiên địa vạnvật nhất thể, để thấy mọi người như mình: cùng
một bản thể. Đấy gọi là Hoa quỳ theo nghĩa quỳ là nơi cả 9 con đường
đều thông hội (căn số 9 là số 3). Vì thế Thổ thần (hiểu là hành Thổ) có 3
mắt, để xem thấu đựơc cả 3 cõi Trời, Đất, Ngừơi.
Tất cả đạo lý Dịch nằm trong chỗ “an thổ” là vậy. Đó cũng là con đường
chính trung của cuộc tiến hóa muôn loài, cũng là phần siêu hình tiên thiên
bát quái.

Về phép bói Dịch
Bói Dịch cũng là một lối giao chỉ, lối hữu hình gọi là bốc phệ (bốc phệ
là bói bằng cỏ thi hoặc mu rùa). Có thể gọi đây là việc của địa tiên với
khả năng biết trước những sự xảy ra do thông được với tiềm thức (hay
thiên năng) của ý thức tiểu ngã, qua trung gian những vật thể như mu rùa,
cỏ thi. Vật thể trong Dịch là các quẻ, tất cả được gọi là “vật linh”.

Vật là sự thể hữu hình như cỏ thi, mua rùa hay các gạch đứt liên (gọi là hào) còn
linh là thuộc tâm linh tiềm thức có sự hiểu biết siêu việt có năng lực bao
la và nó thông cho sự vật được phần nào khả năng đó, nên gọi là linh tức
là cái biết có hiệu lực vựơt khả năng của sự vật. Bởi nếu xét nguyên có sự
vật thì thấy rất vô lý, không lý gì mà cỏ thi, mu rùa lại hiểu biết cao xa
hơn lý trí con người, nhưng Dịch dùng lối biết toàn thể (gọi là chu tri) tức
ý thức không làm việc một mình mà còn đựơc tâm thức tâm linh
thôngbáo cho. Vì thế khi chiêm bốc phải chăm sóc phần tâm linh bằng
gạt bỏ những chướng ngại vật như tư ý, tư dục, để lòng vắng lặng trống
trơn. Cái đó phải coi là chính. Vì thế quan trọng không nên đặt vào sự vật
mà phải đặt vào người. Người phải có đủ điều kiện tâm linh là cần trước
hết, còn việc dùng cỏ thi, mu rùa, hay quẻ, hoặc bói bài v.v… là tuỳ phụ,
tất cả đều vô lý: chúng chỉ có nghĩa do tâm linh. Chính vì thế ở dưới có
cho một lối bói Dịch đã đơn giản hóa cùng cực, để bạn thử chơi, nếu thấy
hiệu nghiệm thì dùng, chỉ cần nhớ rằng hiệu nghiêm hay không ở tại
mình “linh tại ngã, bất linh tại ngã”. Tử vi, đẩu số đều như vậy hết: hay
hoặc không hay là ở tại nơi con người. Phương tiện không quan trọng, mà
quan trọng là trình độ nhạy cảm về phương diện đó của mỗi người. Đấy
là bí quyết việc bói toán nó cũng trùng hợp với đường tu tâm dưỡng trí ở
chỗ làm cho lòng trống trơn. Vì thế mà tuy Dịch Văn Vương có gây xáo
trộn về đàng trí học nhưng ơn ích về tu học vẫn còn phần nào, nhưng nếu
bói Dịch mà bỏ phần “an thổ” thì kể là dị đoan, trúng trật ít bảo đảm hơn
nhiều.
Cách đơn sơ nhất để bói Dịch là dùng ba đồng tiền gieo xuống đồng nào
ngửa thì cho số 2, xấp cho số 3. Cộng cả ba lại nếu được số chẵn (6,8) thì
là hào âm, gạch 2 cái – – nếu là số lẻ (7,9) thì là hào dương, gạch một cái
– thế là được hào nhất. Gieo lại lần 2, rồi đặt hào mới trên hào 1.
Cứ làm như thế đủ 6 lần thì được 6 hao của quẻ muốn tìm. Mở sách ra
xem tên quẻ và chiêm nghiệm lời quẻ (sách này chỉ nhằm phần đạo lý
minh triết nên không cho phần bói toán, tức 64 không in ra ở đây). Chỉ
cần ghi nhận rằng sự gieo quẻ coi như rất là ngẫu hữu “may rủi”, nhưng
xét theo toàn diện thì không là may rủi, vì việc khiến đồng tiến sấp hay

ngửa còn đựơc quy địn do tiềm thức nữa: người ta không biết đến việc
tiềm thức nên gọi là may rủi. Mức pha độ tốt nhất là ý thức 2, tiềm thức
3. Dịch nói là “tham thiên lưỡng địa nhi ỷ số”. Muốn đạt độ lý tưởng “vài
ba tham lưỡng” nọ phải “an thổ” cho lòng trí trống trơn.
Kinh Dịch gọi đó là “Dịch vô tư dã, vô vi dã, tịch nhiên bất động. Cảm
nhi toại thông thiên hạ chi cố, phi thiên hạ chí thần, kỳ thực năng dữ ư
thử” Hệ từ X.4 = Dịch là để lòng trống vắng, không suy tư, không làm gì
hết; đột nhiên linh cảm mà thấy được chỗ căn do của sự việc. Nếu không
phải là rất thần, thì làm sao được như vậy? Nên nhận xét rằng: theo Dịch
thì thần với không đi đôi. Vì vậy làm cho lòng trống trơn, không suy nghĩ
về việc gì trần tục, cũng là sửa soạn cho thần linh xuất hiện. Muốn đạt chí
thần thì tâm hồn phải cực rỗng (chí hư) là thế. Tâm hôn có trống rỗng
được như vậy mới “đọc” ra được ý nghĩa của những lời đèo theo quẻ và
hào, những lời ấy vốn rất lơ mơ mù mịt, vì cái soi sáng, cái đem lại ý
nghĩa cho quẻ cho lời không phải là lời, là quẻ, mà là thần. Lời chỉ là
những dụng cụ bất tương xứng, còn chủ soi sáng, chủ dùng những
phương tiện đó, là chính thần. Thần biến hóa và hiệu năng vô cùng,
không cần những phương tiện hiệu nghiệm cân xứng. Đó là điều cần phải
nhớ khi bói Dịch. Có làm được như vậy mới trông nhờ ơn ích của Dịch.
Về thứ tự 64 quẻ
Nên biết có hai lối xếp đặt. Một theo tiên thiên bát quái xếp theo vòng
trong và vuông, kiểu bánh dầy bánh chưng (xem hình A dưới).
Đây là thứ tự tiên thiên đã nói trên là Kiền, Đoài, Li, Chấn, Tốn, Khảm,
Cấn, Khôn. Quẻ kép cũng theo thứ tự ấy: muốn tìm quẻ theo vòng tròn thì
khởi lấy quẻ nền dương là Kiền làm nền rồi tính ngược lên: có 4 quẻ nền
dương là Kiền, Đoài, Li, Chấn, mỗi quẻ trong 4 quẻ nền này sẽ trở thành
nền cho 8 quẻ kép, mỗi quẻ nền mang trên mình 8 quẻ đơn cũng theo thứ
tự: Kiền, Đoài, Li, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn… và được 32 quẻ. Rồi
đến 4 quẻ nền âm bắt đầu tự Tốn tính xuôi lên cũng có 4 quẻ là Tốn,
Khảm, Cấn, Khôn rồi cũng chồng 8 quẻ đơn lên mỗi quẻ nền trên theo
thứ tự Kiền, Đoài, Li, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn… thế là được 32 quẻ
kép nữa. Cộng 2 bên vào thành 64 quẻ.
Còn với hình vuông thì lấy hàng dọc bên tay phải tự dưới tính lên theo
thứ tự Kiền, Đoài, Li, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn đủ 8 quẻ. Đoạn lấy
quẻ Kiền làm nền cho 8 quẻ kép xếp theo hàng ngang (tự phải qua trái)
trên đặt 8 quẻ đơn Kiền, Đoài, Li, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn… thành
ra một thứ thước thợ. Thế rồi chống các quẻ đơn lên trên quẻ đoài: cũng
xếp như với Kiền. Xong lại lên quẻ Li. Cứ thế hết 8 quẻ nền thì được 64
quẻ. Cả hai lối tròn cũng như vuông rất dễ tìm ra cấu trúc của quẻ. Tuy
nhiên hai thứ tự vuông tròn này đã bị “hậu thiên” làm đảo lộn mất rồi,
nên không còn dùng được để tìm ra số và tên quẻ. Vì thế trong thực tế
phải dùng đến bảng thực hiện (hình B) để tìm ra số quẻ trong sách.
Muốn tìm ra tên quẻ thì lấy quẻ hàng dọc làm nền. Lấy quẻ ngang làm
tầng trên, rồi dò xem 2 quẻ dọc ngang gặp nhau ở ô thứ mấy thì mở sách
ra đọc tên quẻ và các lời soán từ và hào từ.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s