NHỮNG PHẠM TRÙ CHÍNH TRONG TRIẾT LÝ AN VI

An Vi chính là triết lý Việt nho nhưng được đào sâu và quảng diễn hợp với cảm quan thời đại nên cần đặt cho tên mới để dễ nhận diện. Nền triết lý này chia sử trình tâm thức con người làm ba nấc là Bái vật, Ý hệ, và Tâm linh (bộ phạm trù đầu tiên).

Bái Vật là thời mông muội, lý trí con người chưa phát triển đủ nên dễ nghe sao tin vậy: bất cư vật nào hễ xem ra có mòi quyền phép đều được coi như thần linh, được tôn thờ bái lạy, nên gọi là bái vật (animistic totemic). Con người thờ đủ thứ vật, từ con to như hổ, báo, voi, hùm, sư tử cho đến con nhỏ như cóc, ngóe, bọ cạp, gà, chó, mèo, heo… Cao lên một bậc là ma thuật: khi thấy van xin không được thì tìm cách sai khiến quỷ thần, đó gọi là ma thuật; ma thuật kể như nghi lễ của bái vật. Như vậy bái vật là tên rất chung chỉ mọi thứ dị đoan tràn ngập đời sống lúc con người chưa bước vào tuổi dùng lý trí, còn y cứ trên những định đề của bái vật, những đế quốc cổ xưa như Babylon, Assyria, Egypte, Perse, Aán Độ thuộc vào thời này, thời “nhĩ bất thuận tâm” nên rất hoặc. Ý Hệ là giai đoạn chống lại Bái Vật. Con người không tin nữa mà chỉ muốn nhìn tận mắt bắt tận tay, quay ra phê bình chỉ trích những niềm tin trước, lấy sự vật thực tế làm nền tảng. Đây là thời kỳ sẽ mở vào khoa học xán lạn mang lại ơn ích lớn cho loài người. Nhưng trong phạm vi triết, vì cũng muốn theo kiểu khoa học chỉ bằng vào có tai mắt nên hẹp hòi: tai mắt chỉ có thể thâu nhận những hình ảnh của vật trứ hình, gọi là ý niệm.

Nếu xây triết lý trên ý niệm suông sẽ gảy ra ngoài biết bao cái tế vi, vô hình, thí dụ những gì linh thiêng hoặc tình cảm con người, tình nhà, tình nước đều kể như không có. Chỉ phát triển có lý trí nên gọi là duy lý một chiều, rồi hệ thống hóa các ý niệm cách chặt chẽ nên gọi vắn tắt là Ý hệ. Ý hệ là triết làm bằng ý niệm suông rất khô khan, người ta gọi đó là triết lý vô hồn: không có niềm hy vọng lớn lao để thổi căng cánh buồm nghị lực. Các đế quốc được thiết lập theo ý hệ thì như Tây Aâu nhất là thời chiếm thuộc địa, hoặc Nga Xô nay. Còn La Hy có thể coi như ngồi giạng chân lên cả hai: cả bái vật lẫn ý hệ. Tâm Linh là giai đoạn của lý trí được mở rộng để bao gồm cả tình cả chí, cả thiên năng, tiềm thức, siêu thức, gọi chung là Tâm nên chữ tâm rất rộng nghĩa. Ta có thể tạm dùng mấy chữ thiên năng, siêu thức để chỉ tỏ cửa ngõ của tâm đặng có một ý niệm sơ sài. Vì tính cách bao trùm đó nên triết lý xây trên nền tâm cũng gọi là triết lý toàn thể, bao trùm cả vũ trụ gọi là “vũ trụ chi tâm”. Tâm biểu lộ ra bằng tình. Tình ở đợt bái vật là thứ tình bị tràn ngập chưa được lý trí kiểm soát: ý hệ thì đẩy tình ra để lý trí chiếm trọn.

Đến tâm linh mới hội nhập cả tính cả lý, cả thiên năng, tiềm thức, nên rất hiệu nghiệm, gọi vắn tắt là linh. Linh với thần như nhau đều không ở nơi nào nhất định mà ở khắp chốn, nói tâm linh cũng là nói lên sự hiệu nghiệm bao trùm vì có mặt khắp nơi, không gì không tiếp cận. Các nước y cứ trên tâm linh xưa có Tàu, Việt, Đại Hàn, Nhật Bản gọi chung là Việt nho. Để nhận diện rõ hơn tính chất của ba đợt tâm thức trên, triết lý An Vi đưa ra bộ phàm trù thứ hai là: dụng, từ, ý, cơ làm thước đo sự sâu rộng của một nền triết. Triết nào khởi từ Cơ thì đi xuyên qua Ý và Từ để xuống mãi tới Dụng. Cơ là nguyên lý cùng tột. Ý là ý tưởng, là triết học (hệ thống của ý). Từ là lời nòi, văn học. Dụng là việc làm, định chế, thói tục.

Triết nào khởi tự Cơ đi qua Ý, Từ rồi thấu đến Dụng là triết sâu và rộng nhất. Nói Dụng Từ Ý Cơ là bắt đầu ở chỗ cụ thể hiện hình mà lần lên cũng thấy hợp với Từ và Ý rồi đến Cơ thì cũng vậy. Triết học lý niệm khởi từ ý, tận cùng ở từ hầu không tới được việc làm cụ thể, hậu quả chỉ là những thuyết lý trừu tượng hoặc không tưởng (utopie) chẳng có chân nào trên mặt đất, như Cộng hòa của Plato hay các thuyết trong triết học cổ điển Tây Aâu, mà nền tảng siêu hình xây trên ý niệm hữu thể rất trừu tượng thuộc lý trí ròng đến độ nó đẩy lui tình và chí là những cái có sức huy động nghị lực con người, nên triết trở thành trừu tượng son đẹt. Triết làm ra là để bàn luận trong trường ốc, chứ không thực thi vào đời sống được. Nếu chẳng may người ta cưỡng thi hành như Cộng sản cố tình làm với triết học Karl Marx thì phải bù bằng đủ thứ công an mật vụ để ép buộc, khủng bố mới có làm, vì cái làm đó không do tự trong phát xuất thường trái với bản tính con người, nên chỉ có làm bao lâu còn có sự khủng bố, ép buộc. Ngược lại, triết lý đặt trên Cơ tức trên nhu yếu thâm sâu của con người tất nhiên có Dụng theo, khỏi cần phải thúc đẩy từ ngoại… Vì thế nó khác với ý hệ ở chỗ không đưa ra utopia hoặc nên lý tưởng rất cao cũng vẫn còn làm được. Thứ đến, nó cũng khác ý hệ, nhất là khác bái vật ở chỗ không dùng “mưu gian đạo đức” (vì đạo đức mà đánh lừa, pia fraus), thí dụ Mặc Địch hứa tìm việc cho môn đệ, nhưng khi học xong ông nói có việc đâu, đó chỉ là đánh lừa môn sinh để chịu khó học. Bái vật dùng tràn ngập pia fraus đã đành, cả đến triết lý nhiều khi cũng không chê, thí dụ ông tổ triết Tây là Plato cũng dùng bộn. Còn Cộng sản thì khỏi nói: luôn luôn sống trên những lời hứa cuội (lợi hành) kèm thêm khủng bố (cưỡng hành) tại ý hệ là triết học xây trên ý niệm, không đủ sâu để khơi động nguồn nghị lực tâm hồn, đành phải dùng những trợ lực ngoại khởi như pia fraus.

Hãy so sánh các xã hội cổ sơ vừa nhắc đến, để có sự minh họa. Đang khi các xã hội theo Việt nho đều có cả bốn đợt: dụng, từ, ý, cơ. Cơ là đạo nghĩa. Ý là triết lý, đạo học. Từ là văn học nghệ thuật, cũng tuân theo đạo lý. Còn Dụng là áp dụng triết học vào đời sống gọi là định chế, là thói tục mà từ vua tới dân đều cố theo. Vì thết tất cả bốn chặng đều ăn chịu với nhau như một cơ thể, nên có hiện tượng này là dù triết đưa ra lý tưởng hết sức cao (cơ) nhưng vẫn hiện thực (dụng) được, không những thấu nhập vào triết học (ý), văn học (từ) nhưng còn thấu tới thân tâm con người. Lịch sử văn minh đã phải khen là “nền luân lý hiệu nghiệm hơn hết gặp được trong các dân ở bất cứ thời nào” (W. Durant, Story of Civil. vol I. 6-40).

Một xã hội đông người nhất, với phương thức cai trị bền bĩ nhất, và tạo được hạnh phúc hơn hết cho con người: không có chế độ nô lệ hay nếu có cũng đã được bãi bỏ rất sớm. Tuy có chuyên chế nhưng là chuyện từng giai đoạn với từng ông vua, chứ nói chung thì không. Người ta không thấy chỗ đó vì lẫn lỗn độc tài, độc chuyên với chuyên chế. Độc tài (authoritrianism) thì nhất định các vua xưa đều độc tài, nhưng không hẳn chuyên chế theo nghĩa mạnh của từ tyranny hay là totalitarianism, nó đòi kiểm soát hết mọi chuyện không những chính trị, mà hết cả đời sống; nó định đoạt tiêu chuẩn cho mọi giá trị, từ kinh tế, nghệ thuật, văn học đến bản thân, tư tưởng, cảm tình, tôn giáo như ta thấy thực thi trong các xã hội cộng sản: người dân mất hết mọi tự do. Trong chế độ quân chủ xưa mà ta gọi là độc tài, người dân còn hưởng rất nhiều tự do: từ tôn giáo, tư tưởng, nghệ thuật đến kinh tế, đi lại, cả đến tài sản… Có thể so với dân chủ ngày nay tuy đời sống thấp hơn nhiều, nhưng về tự do không thua bao lăm, thường chỉ cho chính trị, ngoại trừ một số người sống bên cạnh vua bị giàng buộc nhiều hơn, còn toàn dân sống trong thôn làng vẫn có thể nói mà không sợ bị cải chính là “phép vua thua lệ làng”. Ngược lại, trong các nền văn minh khác như Babylon, Perse (Ba Tư), Egypte (Ai Cập), phải gọi là đế quốc vì thường có những điểm đi cùng như chuyên bóc lột hết mọi tự do. Đây là những cái diệt hạnh phúc con người, các xã hội đó đều có cả bấy nhiêu một cách nền móng. Đó là kết quả của sự xây trên ý hệ cũng như bái vật. Dĩ nhiên xây trên ý hệ đã có nới rộng hơn bái vật, đã bao gồm một vài giai cấp được hưởng tự do như quý tộc trong xã hội La Hy.

Nhưng nói chung, định chế vẫn đặt liên hệ chủ nô kéo theo sự giàu nghèo chênh lệch quá đáng. Đây là lý do căn để gây nên sự suy sụp các đế quốc nọ. Ngoại trừ Aán Độ, không một đế quốc nào sống được một phần ba tuổi của các xã hội Việt nho. Là vì bái vật và ý hệ không có sự hiệu nghiệm phát xuất từ cơ thể nên không bao được dụng, từ, ý, cơ, mà trơ ra chỉ có từ và ý. Ý thì từ đầu óc sản xuất, rồi phát biểu ra miệng, không đủ sức huy động tâm tình. Trái lại cơ phát xuất từ tâm tình nên huy động toàn thân, tự nhiên thi hành ra, và khi thi hành thì sinh ơn ích, gây hạnh phúc cho con người. Các xã hội dân chủ Tây Aâu nay dù đã bỏ được chuyên chế, không phải do Cơ, mà hầu uhết do lương tri như tranh đấu, do kinh tế phồn thịnh, do tâm thức con người đã phát triển
đủ… Vì không do Cơ, nên xã hội chỉ có luật pháp, trên nữa không có đạo nghĩa, dưới không có gì hướng dẫn việc tu thân, tế gia và các liên hệ tinh tế của con người. Đây là chỗ cần nói đến sự khác biệt giữa cơ cấu học hiện nay và cơ cấu của An Vi. Tuy cả hai cũng dùng phương pháp như nhau: cùng số độ, đồ hình, huyền thoại, huyền sử, cũng đối chiếu với các văn minh, cũng nhìn bao trùm… Nhưng cái khác là cơ cấu hiện nay còn mang nhiều tính chất lý trí, phần lớn được lý trí kiến tạo ra (construit) để tìm hiểu các văn hóa cổ sơ hay giải nghĩa các tác phẩm văn học, chứ không chủ chốt nhằm vào hướng dẫn đời sống. Vì vậy bộ phạm trù Dụng, Từ, Ý, Cơ chỉ áp dụng riêng cho Việt nho, ít ra cách trung thực hơn cả. Để thấy điều đó ta hãy phân tích cái Cơ của Việt nho về phương diện triết. Vậy Cơ ở đây được biểu diễn ra ba nguyên lý tối cao nên đúng ra phải gọi là định đề (premises) đó là: Nguyên lý lưỡng hợp, Nguyên lý nhân chủ, Nguyên lý an vi. Ba nguyên lý này thuộc Cơ vì nó không còn ở trong tầm tay lý lẽ để mà chứng minh, mà lý luận nữa: nó đã ăn sâu vào tiềm thức phần lớn rồi. Thứ nhất, nguyên lý Lưỡng hợp: hai mà một, một mà hai; có mà như không, không mà lại có, đó là một, không thể nhập nhằng nước đôi, vậy mà đó là định đề căn bản của triết lý An vi. Nhờ đó nó đưa ra được vũ trụ quan động ngược hẳn với nguyên lý tĩnh của ý hệ gọi là nguyên lý Đồng nhất: A là A, động là động, tĩnh là tĩnh. Đã động thôi tĩnh, đã tĩnh thôi động. Nó rất hợp lý trí nên làm nền móng cho logic. Khoa luân lý y cứ trên ý niệm là do lẽ đó. Trái lại, Việt nho thì động mà tĩnh, tĩnh mà lại động. Đó là nguyên lý Đồng thời, trong A đồng thời có B, trong B đồng thời có A; một mà hai, hai mà một, các học giả kêu là dual unit (hai mà một), nó bao gồm cả hai bên. Đợt cao nhất của nó thuộc siêu hình là có không, không mà lại có. Có nương không mà sinh, không nương có mà xuất hiện. Đợt hai thuộc thực tế cụ thể hơn, nên nói trời đất, núi sông, mưa nắng… Những chữ đối đáp này chỉ thị hai hạn từ đối lập nên là phạm trù tổng quát chỉ các cặp đối lập khác như sáng tối, cứng mềm, ngày đêm, nam nữ. Triết học lý niệm chỉ có một bên, một cực, quen gọi là Duy: một là một, A là A, đã A thì không B, không thể có trường hợp thứ ba được: tertium non datur, excludes middle. Triết lý An Vi không những nhận có trường hợp thứ ba, còn tôn lên gọi là tam tài và lấy làm nền tảng. Tam tài là Trời Đất Người. Đó cũng là điều nghịch lý, hay siêu lý vì người bé nhỏ đặt ngang hàng với trời cùng đất sao được: không thấy vô lý sao? Nhưng vậy mới nói là nó vượt khỏi phạm vi lý trí để ăn sâu vào tiềm thức và thuộc về Cơ. Cơ chú ý tới mọi liện hệ giữa hai thái cực; nói trong tam tài có người ở giữa trời cùng đất cũng là nói người là liên hệ giữa trời và đất. Triết học cổ điển chỉ chú ý đến từng hạn từ (term) hoặc trời hoặc đất, hoặc có hoặc không. Do vậy hoặc duy vật hoặc duy tâm mà không chú ý đến mối tương quan của nó như triết Việt nho chú ý đến cả hai: cả âm lẫn dương, “âm dương tương thôi”. Huyền sử Việt nói mẹ Aâu Cơ gặp bố Lạc Long trên cánh đồng Tương là hàm ngụ ý đó. Nói cụ thể là không đặt ưu tiên vào trời với đất, mà đặt vào người được quan niệm là mối liên hệ giữa trời cùng đất. Do việc đặt để này mà Việt nho chính là tổ sư cơ cấu: vì cơ cấu không quan tâm đến hạn từ, nhưng đặt nặng trên tương quan của hạn từ. Tương quan là cái gì năng động. Nói người là Tài cũng là nói người là tác năng, là tạo hóa con (không là Tạo Hóa viết hoa) là do vậy. Hậu quả của sự nói Cơ với Dung là thế. Đó là nguyên lý đầu tiên có thể gọi là vũ trụ quan động. Nguyên lý thứ hai thuộc nhân sinh quan cũng phải thuận theo thế động của vũ trụ quan. Gọi là nhân chủ theo nghĩa người là chủ nhân ông. Chủ là cái gì? Thưa là chủ trời cùng đất. Nói đúng ra là chủ thân tâm mình (bao gồm trời đất ở trong) ngược với vật chủ ở hai đợt bái vật và ý hệ, nơi ấy con người vong thân bị sự vật sai xử nên gọi là vật chủ (chosisme), sự vật lôi con người xuống cùng cỡ với vật, Mỹ gọi là “reified man” hoặc “thingified man”. Nguyên lý thứ ba là An vi. Đây là nguyên lý khó hiểu nên cần bộ phạm trù thứ ba gồm cưỡng hành, lợi hành và an hành. Cưỡng hành chỉ những việc mà động cơ ở ngoài con người như làm vì sợ trời đánh thánh vật, làm vì bị bắt buộc như tù nhân phải lao động, mất hết tự do, tự lực.

Lợi hành thì động cơ là lợi lộc, tuy ở ngoài nhưng còn để cho con người ít tự lực; đựơc tự do khỏi cưỡng buộc, chỉ mất tự do luân lý. An hành không còn tìm động cơ từ ngoài nhưng tìm ngay trong mình, thấy đáng làm thì làm, thành bại là thứ yếu. Loại này hợp cho con người được quan niệm như nhân chủ, nó không phạm đến tự do tâm ly con người, con người vẫn là chủ cả ngoài lẫn trong, tâm lý vẫn đủ sức tự cường tự lực, khỏi cần sự thúc đẩy từ ngoài. Nó là loại việc cốt cán cho triết lý xây trên nhân chủ gọi là An Vi. Gọi thế để đặt vị trí giữa hai khuynh hướng triết ở hai thái cực là hữu vi và vô vi. Hữu vi là có làm hiểu là sự làm gắn liền với đối tượng, nô lệ cho đối tượng. Điều đó kéo theo sự nguy hiểm rất tế vi là nó sẽ dẫn con người đến tai họa bị vật hóa (thingification) vì thế đã có sự phản động lại để tránh tiếp xúc với sự vật để khỏi bị vật hóa (một thứ chính sách Monroe trong triết cũng gọi là chính sách đà điểu). Nhưng không làm thì sống sao, nhãn tiền là không có ăn: theo nguyên tắc tay có làm hàm mới có nhai. Thế là vô vi cũng mắc kẹt như hữu vi. Đàng nào cũng chết: làm thì bị vật hóa, không làm thì làm sao sống. Vậy phải tìm lối nào đây để thoát khỏi gọng kìm một bên hữu một bên vô. Và câu thưa là An Vi. Triết lý An Vi lấy an hành làm lý tưởng, nhưng không gảy bọ lợi hành và cưỡng hành. Nhưng cái đó thuộc tiểu ngã, thuộc vòng hiện tượng không dễ gì bỏ đi được, lý tưởng là phải có thêm nhiều tác động ở đợt an hành, để nó làm chủ, để nó bao phủ lấy việc hai đợt dưới hầu làm cho chúng trở nên thánh thoát lấy. Còn chính chủ tịch của thanh thoát phải là các việc thuộc đợt an hành: chính những việc này mới giúp vào công cuộc thanh nhàn hơn cả. Vì thế tiên hiền Việt nho đã đưa ra định chế tứ quý để giúp thực thi. Tứ quý là bốn tuần cuối bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông, hay tuần cuối của các tháng 3, 6, 9, 12. Đó là bốn tuần mà tứ quý mượn của bốn tháng nọ. Mượn để làm chi? Thưa để không làm chi hế t, mà chỉ ngồi không, chữ nho nói về vua là “thùy y thường”: thả lỏng áo quần xuống như người không phải đi làm. Nếu cứ muốn nói “có làm” thì là làm cái “không làm”, vì việc chính của tứ quý là trút sạch những cái có trong lòng mình ra, những cái đó thuộc hữu vi đầy sức ngãng trở tâm hồn, không để cho cái cơ trồi lên mặt tâm thức để nói lên tiếng nói thiên mệnh, tức là những nhu yếu thâm sâu của bản tính con người. Thành thử con người chỉ nghe được lệnh truyền của bái vật hoặc ý hệ hoàn toàn ngoại khởi, không nghe được nguyên ngôn là mệnh lệnh của nhân tính tâm linh. Những ngãng trở đó có nhiều nhưng được quy vào hai cặp danh từ là bái vật và ý hệ. Đó là những động cơ từ ngoài, có sức vật hóa người nên lâu lâu cần thì giờ không làm gì mà chỉ lo xả bỏ. Khi xả hết rồi sự làm sẽ thong dong, để trở nên an vi, làm vì đáng làm là làm, không phải làm vì sợ trởi đánh thánh vật, hoặc vì bôn ba lợi danh nữa. Những thứ làm đó đều bắt con người nô lệ cho đối tượng, nô lệ cho sự thúc đẩy bên ngoài, nó làm sa sút nhân chủ tính, chỉ có an hành mới xứng là việc của con người nhân chủ. Đó là đại để cái khung cửa triết lý An Vi đặt trên cơ cấu với ba nguyên lý lưỡng hợp, nhân chủ, an hành. Đó là cơ cấu thượng thặng ta có thể diễn tả bằng hình vẽ, bằng huyền số, bằng huyền thoại. Xem lại lịch sử cũng như quan sát con người sẽ dễ dàng nhận ra cả ba loại việc kể trên cưỡng hành, lợi hành và cả an hành. Nhưng nhiều khi có an hành mà không có an vi. Đó là những bậc “sinh nhi tri chi” tức là bẩm sinh được như thế: rất cao thượng, không màng công danh. Nhưng đó là những đóa hoa vĩ đại không đựơc vun tưới tự nhiên mọc lên được giữa rừng hoang. Triết lý An vi muốn phân tích hành vi của những bậc cao cả nọ để rút lấy cái cơ cấu đặng thiết lập ra một nền triết hẳn hoi để giúp nhận thức ra hiện thực. Điều đó Việt nho đã làm rồi nhưng chỉ đủ cho đợt tiến trước, không còn hợp cho cảm quan của đợt tiến mới có thêm khoa học thuộc cả sinh (sống) lẫn tâm (linh). Sinh như kỹ thuật cơ khí nâng cao mức sống. Tâm như các khoa tân nhân văn: xã hội, khảo cổ, nhân học, uyên tâm, cơ cấu… Các khoa học đó sẽ giúp con người có thêm rất nhiều những xác định cặn kẽ hơn, những cái nhìn thấu triệt mới lạ. Vì thế cần một nền triết lý hội nhập tất cả các sở đắc mới nọ. Đó là nền triết mà nước Mỹ, dân Mỹ phải làm và rồi họ sẽ làm được. Khi nào làm được thì Mỹ sẽ dẫn đầu cuộc cách mạng tâm linh đang thiếu đường hướng. Hiện nay Mỹ còn đang ở tuổi ý hệ, lợi hành. Chỉ cần đặt trên lợi hành một đợt an hành nữa là xong. Muốn được thế cần mạnh
dạn đi vào cuộc cách mạng tâm linh mà việc đầu phải là xây đắp nền triết mới trên cơ cấu, rồi bắt toàn dân phải học biết như biết hiến pháp vậy. Nói đến đây nhiều người sẽ la ó cho là phạm đến tự do, phạm đến hiến pháp xây trên tự do nên phải để mọi người tự do! Mỹ phải theo chế độ đa phương nghĩa là nhiều triết. Nhưng bạn có biết đa phương thực sự là chi chăng? Thưa là chắn che sự ngu dốt, sự bất lực. Nói rõ ra, cả Mỹ cũng như Tây Aâu không sao thiết lập nổi một nền triết nhân sinh có đủ sức làm lãnh chúa, phải ở lì lại trong ý hệ tất nhiên mắc cảnh “thập nhị sứ quân”, cả đối bằng đầu. Nên phải lấy “đa phương” làm tôn chỉ, cốt để tránh cái họa chuyên chế độc hữu vốn là đặc tính của ý hệ. Tưởng như vậy là trọng kính tự do, có ngờ đâu rằng nước thiếu một nền triết của quốc gia cũng y như không có một nền hiến pháp. Nếu ở đợt hiến pháp không thể “đa phương” thì ở đợt triết cũng vậy. Sở dĩ người ta không nhận ra điều đó vì không biết đến thứ triết lý đặt trên cơ vốn có tính cách bao dung nên thường không xuất hiện như nền triết lý độc nhất nhưng như triết lý ưu thắng, nghĩa là vẫn dung chứa các nền triết lý khác, nhưng thường những triết lý này chỉ có để làm cảnh, người nào thích thì đem ra bàn cãi vậy thôi, chứ giả có trao cho tay láy con thuyền đời sống thì chẳng biết mà rờ. Thí dụ cụ thể trong lịch sử Tàu, đời Hán ban đầu rất trọng Lão Trang, đã đem quyền hành đặt vào tay Đạo giáo, nhưng chỉ ít lâu tỏ ra bất lực, lại phải moi Nho lên mà trao cả vì Nho đặt trên cơ. Cái phiền của Aâu Mỹ là chỉ có loại triết lý làm cảnh chứ không có triết lý xây trên cơ. Triết lý đặt trên cơ phải đi rất sát đời sống, nhưng đi sát mà lại không đi vào những xác định chi ly, nên vẫn giữ được tính chất bao dung. Vì mội xác định là mỗi bám sát vào một biến cố, một sự việc. Thí dụ nói về chính trị, triết lý An vi chỉ đưa ra những nguyên lý ở đợt đầu gọi là chính lược, không xuống đến đợt chiến lược, càng không đến đợt chiến thuật. Vì càng xuống càng cá thể hóa cho hợp sự việc phải làm, việc nào cũng có một không điểm, một thời điểm nhất định nên chỉ có một không thể hai, là những cái phải quyết định tùy hoàn cảnh mỗi lúc mỗi khác. Triết học duy lý y cứ trên ý niệm là cái đã xác định nhiều, khó có thể xuống tới dụng là việc làm. Việc làm nào cũng là một cá thể có một không hai, phải luôn luôn quy định riêng cho nó. Muốn tổng quát hóa ở đợt này sẽ dễ dàng đi vào độc đoán và chuyên chế. Đây là lý do khi theo triết học lý niệm dễ câu nệ chấp một, thiếu sự mềm dẻo quen đi với triết học xây trên cơ. Cơ không có hệ thống nên không kềnh càng, dễ thể nhập vào bất cứ đâu, vào bất cứ tổng hợp mới nào. Triết học ý hệ rất khó lột xác để đi vào tổng hợp mới, do cái hệ thống kềnh cơi của nó với những xác định chi li, vì thế mà nó thất bại và chịu để thế giới hiện đại như thuyền không lái: bởi thiếu một triết lý đặt trên cơ. Đây là nền triết lý con người đang mặc nhiên mong đợi, vì chỉ có nền triết đầy tâm tình nó mới ứng hợp cho con người thời hậu kỹ nghệ, thời nó sửa soạn bước vào giai đoạn phong lưu, làm ít chơi nhiều, sống thảnh thơi như chim trời cá nước.
TÁI BÚT: Trên đây là một mẫu thử áp dụng triết lý An Vi vào chính trị Mỹ. Triết Việt mênh mông, ai muốn biết thêm nên tìm đọc cuốn “Kinh Hùng Khải triết” và nhất là quyển “Sứ Điệp Trống Đồng” nơi bao gốc rễ của văn hóa Việt được minh chứng bằng những hiện vật khảo cổ.

Con người sẽ được sống nhởn nhơ như đàn chim đang ca múa trên mặt trống đồng Ngọc Lữ. Trong đó là Hiến chương quê hương thứ nhất của tôi, nay tôi muốn quê hương thứ hai của tôi cũng được như vậy, nhưng cao hơn vì thuộc đợt tiến sau. Tôi tin tưởng nước Mỹ sẽ đi được. Nước Mỹ có sứ mạng đó. Những điềm triệu đã hiện ra rồi kia trong các cô cheerleaders sống động, nhí nhảnh, tràn ngập hạnh phúc, báo hiệu quang cảnh của thế giới mai sau nọ. Phải, hình ảnh các cô đã đập vào mắt tôi ngay khi vào Mỹ: tôi thích xem thấy trong các cheerleaders cái điềm triệu quý giá báo trước đợt sống cao hơn, đầy ca vũ, nhảy múa… Trong đó mọi con người được thoát lao tác nặng nhọc, cũng như thoát ách chuyên chế để hưởng trọn nền dân chủ, chỉ còn làm ít giờ (32 giờ thí dụ), hưu sớm, kỳ nghỉ dài (năm, sáu tuần hay vài ba tháng) tùy theo cái đà dùng thêm các robots và máy tự điều khiển. Thì giờ nhàn rỗi sẽ thêm lên theo đà. Chỉ còn cần kiến tạo một nền minh triết am hợp nữa là xong. Con người có thể bước vào vận hội mới để sống thanh thoát như chim trời, tung tăng như ca nước, báo trước đợt sống cao hơn này sẽ không còn là đặc ân cho phái thống trị hoặc quyền quý, nhưng mở ra cho toàn dân như trong xã hội Việt nho xưa, nhưng không còn bị chật vật nghèo túng mà là dư dật tràn lan. Ai nấy đều có đủ giờ rảnh rang để lo những việc bên ngoài tự kiếm sống: văn hóa, nghệ thuật, xã hội, tôn giáo, du lịch và cả một rừng hobbies. Mỹ đã đi được bước đầu trong lãnh vực sinh. Nhưng phía tâm còn thiếu một nền triết am hợp. Nền minh triết này chưa có, cần phải kiến tạo. Có kiến tạo được, Mỹ mới đủ sức lãnh đạo và mới là “văn hiến chi bang” mà không chỉ là “dollar chi xứ”. Khi đã kiến tảo rồi, nó sẽ cao hơn minh triết Á đông, nhưng chỉ cao hơn về những xác định, những cái nhìn soi dọi thấu triệt và phong phú hơn, để được nhiều người nhận thức hơn. Nhưng xét về nguyên lý căn để thì minh triết Á đông với của Aâu Mỹ đều như nhau. Vì thế mà sự học hỏi về nền minh triết Đông phương trở nên ơn ích cho người Mỹ. Chúng tôi sẽ giới thiệu khuôn mặt của nền Minh triết đó ở mục sau, tựa đề là “những phạm trù của triết lý An vi” (một quảng diễn mới của nền minh triết cổ đại).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s