CƠ CẤU UYÊN NGUYÊN

1. Đi tìm ý nghĩa huyền thoại
Ta đã bàn về Hoàng Nho gọi là “Đại Đạo”. Đó là một đạo đầy đủ đến
nỗi Chu Nho sau không thêm được gì. Vậy Đại Đạo là gì? Có cách nào để
tìm ra nội dung Đại Đạo chăng. Bởi các sách cổ nói về Đại Đạo như
“Tam phần, Ngũ điển, Bát sách, Cửu khâu” đã bị nhà Chu làm mất rồi?

Thưa có hai lối: một là đi tìm xuyên qua kinh điển của Nho, vì Nho đã
múc tự Hoàng Nho nên tìm ra Nguyên Nho cũng là tìm ra Hoàng Nho.
Và đó là con đường chúng tôi đã theo cho tới nay. Lối này tuy trung thực
nhưng mới là tuỳ phụ và gián tiếp… Còn một lối nữa có thể gọi là trực
tiếp và chính cốt đó là tìm ngay trong những huyền thoại của Tam Hoàng.
Lối này đã được dùng rồi, nhưng phương thức sai: không tiêu diệt thần
thoại như Chu Nho, thì lại đi theo lối ma thuật của Hán Nho. Cả hai đều
trật, chúng ta sẽ cố tìm ra một lối thứ ba.
Chu Nho tiêu diệt thần thoại bằng cách sử ký hóa thần thoại tức cố cắt
nghĩa kiểu thường như Hoàng Đế có 4 mặt (tứ diện) thì giải nghĩa là
Hoàng Đế đặt quan coi 4 phương. “Quỷ nhất túc” Quỷ có một chân được
giải là “một mình ông Quỳ đã đủ (chữ túc có nghĩa là chân và đủ). Aùo
rồng áo chi của ông Thuấn trở thành 2 que cặp nách… Theo lối này thì
bao truyện thần tiên đều trở nên lịch sử: các thần trở nên hiền triết hoặc
quan đại thần tài ba như ông Đại Vũ. Các quái vật trở nên quân phản
nguỵ như thần Cộng Công.
Lối này có cái hại ngay về văn học vì đã thải bỏ mất bao huyền thoại như
truyện bắn mặt trời, truyện Nữ Oa. Đó là những truyện vì không thể róc
chất quái dị đi được thì bỏ hẳn. Còn cái hại chính là khi làm mất chiều
kích bao la của câu truyện thì cũng là làm mất ý nghĩa của Đại Đạo…
Đó là điều mà đến đời Hán đã gây sự phản động lại, bằng cách thu thập
đầy đủ các thứ thần thoại như chứng tỏ trong các sách Sơn Hải Kinh,
Xuân Thu phồn lộ… nhưng đều giải nghĩa theo lối ma thuật như âm
dương gia, phong thuỷ, “ngũ hành”… thì đều là đi xuống: “hình nhi hạ”.
Còn một lối biến huyền thoại ra dụng cụ văn chương, triết học như trong
Trang Tử, Liệt Tử v.v… Đó không là giải nghĩa mà có thể nói là chối
thần thoại, biến thần thoại thành ra đồ trang sức cho văn chương hay ý
nghĩa.
Trong thiên nghiên cứu nhan đề “Các thần thoại trong Kinh Thư”,
légendes mythologiques dans le Chou Kinh (1924) Maspéro nhận xét:
“học giả về Tàu chỉ biết có lối biến đổi thần thoại thành lịch sử nên biết
bao truyện bị róc hết chất huyền thoại, chỉ còn lại chút cặn bã vô sách
màu: thần tiên trở nên hiền triết hoặc những quan đại thần tài ba, còn các
quái vật đều trở nên những tên phản nguỵ. Và tất cả được xếp vào một túe
thứ tiên thiên đặt theo ngũ hành…”
Lời bình luận trên của Maspéro có chỗ đúng và đó là lối Chu Nho. Nhà
Chu phát xuất từ phía tây bắc vốn thiên về lý trí không ưa huyền thoại,
đến khi gặp Di Nho còn dùng nhiều huyền thoại thì tìam cách róc tỉa hoặc
bỏ qua. Vì thế mà hầu hết các huyền thoại đều bị giản lược vào chiều kích
lịch sử, người Hy Lạp gọi là euhemerization. Còn Nho gọi là hình nhi hạ
tức từ hình ảnh ngụ ngôn đi xuống sử ký thế sự. Lối hình nhi hạ tương
đương với lối mà cơ cấu gọi là phénotexte.
Phê bình như thế rất đúng nhưng không đi đến đâu tức không đưa ra lối
giải nghĩa đích thực nào cả mà để huyền thoại y nguyên là huyền thoại, ta
có thể gọi đó là hình nhi hình tức là không giúp vào Đạo lý chỉ trừ có việc
thông báo về văn hóa làm cho độc giả biết rõ truyện lấy ở sách nào và
thời đại xuất hiện v.v… Đây là điều có ích cho văn học thôi. Thế mà cũng
không hàm ơn ích, vì về việc ghi thời gian của thần thoại không ăn nhằm
chi (irrelevant) nhiều khi còn không đúng hoàn cảnh nữa. Không ăn nhằm
vì thần thoại nói về việc phổ biến tức vượt phạm trù không gian, thời
gian, nên vấn đề trước sayu, ở đây hay kia không mấy cần thiết, nhiều khi
ghi thời gian còn rút hẹp phạm vi của câu truyện.
Cũng không đúng hoàn cảnh nữa vì chỉ căn cứ vào sách vở mà định thời
nảy sinh truyện thì sai. Bởi ở đây có hai truyền thống văn hóa: một Tàu
một Việt. Tàu đến sau đã “làm mất” sách của Việt, khiến Việt kể là
không còn tiếng nói, nên hầu hết truyện có lâu trước nơi Việt chỉ được
chép vào sách Tàu dần dần theo đó Tàu mở rộng đất đai, thí dụ học giả
hay nói ngũ hành mới có tự thế kỷ 4 tr.c.n. Vì từ đó mới thấy ghi vào
sách Tàu, nhưng nếu theo khảo cổ thì ngũ hành đã có lâu đời ít nhất là 30
thế kỷ trước như 5 hòn sỏi ở Phùng Nguyên chứng tỏ điều đó. Cho nên
hầu hết các câu quyết đoán của học giả về thời gian xuất hiện của truyện
đều nên coi là đáng nghi ngờ.
Còn về việc đưa ra giải nghĩa chung cách đúng thì không có. Vì quả thật
đây là chỗ khó khăn chưa được vượt qua tức vượt tự lý trí lên tâm linh
chưa làm được.

Muốn giải nghĩa huyền thoại đúng cách phải dùng đến phạm trù Việt Nho
mới có phổ biến tính và đó sẽ là nhân thoại. Nhân thoại khác thần thoại.
Thần thoại thì thần làm chủ người làm nô. Còn ở nhân thoại thì người
làm chủ ngang với thần, sau này Nho công thức hóa thành thuyết tam tài:
Trời, Đất, Người. Theo đó nếu trời là chủ, đất là chủ thì người cũng là
chủ tức con người phải có chiều kích bao la như vũ trụ. Và đó là điều
được biểu thị trong ngũ hành nhưng chẳng may ngũ hành bị hiểu kiểu ma
thuật hoặc dùng để xếp loại như trong y học hay sử ký do Hán Nho đã
dùng rồi, nó còn kèm cả lối sử ký hóa của Chu Nho vì đã không bày tỏ
được chiều kích bao la của con người mà còn trở nên cái ụ chận đường
tiến của khoa học. Vì lấy ngũ hành làm thực tại rồi suy tư theo đó. Dầu
vậy cũng còn cao hơn Hán Nho vì Chu Nho đã lên đến đợt ý hệ. Chứ Hán
Nho còn đang ở đợt bái vật. Muốn hiểu đúng ngũ hành phải hiểu theo
nghĩa nhân chủ an vi của cơ cấu như sẽ trình bày sau đây.
2. Cơ cấu uyên nguyên
Cơ cấu là phương pháp nhìn bao trùm cánh đồng nghiên cứu để tìm ra
cái dạng thức chung rồi đối chiếu với các dạng thức khác cho thêm rõ; lại
dùng lược đồ, số độ và truyện tích để trình bày. Đại để đó là cơ cấu nói
kiểu dễ hiểu. Nhưng biết và hiện thực được thì khó hơn nhiều như sẽ xem
sau.
Còn về hai chữ uyên nguyên là khi đi đến chỗ đầu trước hết, đến chỗ tột
cùng có nghĩa là phổ biến tức thực cho mọi nơi mọi đời. Tính cách uyê
nguyên sẽ sa đọa khi bị hiểu trụt xuống nghĩa hiện tượng, lúc ấy trúng
hay trật chỉ còn là chuyện may rủi và dẫu sao cũng là phần mớ, nhiều khi
còn làm mất luôn cả ý nghĩa hiện tượng nữa; tiêu biểu chỉ còn là truyện
cổ tích, tản mát, sứt mẻ. Trong chương này chúng ta sẽ bàn về cơ cấu
uyên nguyên trước hết rồi sau chỉ trỏ ra một hai trường hợp sa đọa.
Trước hết về cơ cấu uyên nguyên và đó là ngũ hành. Vì ngũ hành phát
sinh tự cái nhìn về vũ trụ và nhân sinh là hai quan niệm vừa bao quát vừa
có ngay tự đầu. Để thấy điều đó rõ hơn ta hãy đi vào cụ thể bằng xét bộ
“ngũ hành” của Aristotle vì nó ảnh hưởng quyết định trên triết Tây Aâu
đến tận ngày nay. Vào thời của ông có hai vấn đề: thứ nhất hỏi yếu tố nào
là bản chất sơ nguyên làm nên vũ trụ. Hầu hết thưa là đất. Thales cho là
nước. Heraclite cho là lửa. Anaximene khí. Câu hỏi thứ hai là vũ trụ có
tính cách cố định hay biến đổi…
Parménide thưa là bất động, bất biến. Empédocle cho là có động có tiến
hóa. Aristotle thấy người nào cũng có một phần sự thực nên ông đã tìm
cách tổng hợp bằng đưa ra một vũ trụ có hai tầng, lấy mặt trăng làm ranh
giới: tầng trên tức tự mặt trăng trở lên thì bất động. Tầng dưới mặt trăng
thì động. Phần bất động gồm có chín đợt (spheres) là mặt trăng, Venus,
Mercure, Mặt trời, Mars, Jupiter, Saturne, đợt các sao, vòng ngoài cùng là
Thượng đế. Ngài là đấng bất động nhưng lại là đệ nhất tác động, làm
chuyển động các vật dưới mặt trăng mà trái đất là trung tâm. Sự động gây
nên do sự pha trộn các yếu tố đối nghịch nhau. Có bốn tố là đất, nước,
khí, lửa được xếp đặt như bảng sau:

Với bảng này Aristotle nghĩa là đã tổng hợp được cả tứ tố, lại vừa bất
động với biến hóa. Dầu sao thì đây phải kể là bứơc thành tựu đầu tiên của
con người cố vượt ra khỏi giai đoạn thần thoại để đi lên giai đoạn lý trí:
dùng bảng tứ tố để chỉ đường tiến hóa của vũ trụ. Bước tiến này cũng xảy
ra có thể nói là khắp nơi, và với sự xếp đặt các tố khác nhau mà ta nhận
diện ra nền văn hóa đó.
Bên phía Việt Nho thì là ngũ hành khi so với nó thì bằng tứ tố có mấy dị
biệt sau:
1. Thứ nhất thiếu sự vuông tròn lồng vào nhau: tròn ở trên, vuông ở dưới:
nóng lạnh, khô ẩm giao thoa theo đường thẳng tắp, chứ không tiến theo
vòng tròn. Như vậy chỉ có vuông.
2. Không có vòng sinh, vòng khắc trái chiều nhau.
3. Và nhất là không có vô thể, tuy Aristotle có thêm Ether làm tố thứ
năm, nhưng nó cũng là một tố như bốn tố kia tức cũng là hữu thể và ở
riêng trên tầng bất động, không liên hệ chi tới trái đất, tức là trời đất
không giao thoa: không có “giao chỉ”. Chính vì thiếu vô thể, nên không
có sự biến động, uyên nguyên giữa vô với hữu. Vì vậy tứ tố không là cơ
cấu uyên nguyên.
Cái bảng tứ tố này về sau cũng được theo bên Aán Độ như thấy trong
phái Sankhya, và nhấn mạnh đến tròn chỉ vô thể. Nên nếu kể Aâu Tây là
Hữu với siêu hình là Hữu thể học (ontology) thì bên Aán là Vô với Vô
nhị (advaita) hai bên giống nhau ở chỗ tròn vuông không giao thoa. Vì
thế có thể nói chung là cả hai nơi đều rơi vào duy: Tây Aâu là duy hữu,
Aán Độ là duy vô. Đấy là nói về nền tảng chứ trong đời sống thì tất cả có
sự pha trộn tròn vuông, nhưng chỉ ở cỡ lương tri thường nghiệm chứ
không đến đợt cơ cấu. Tuy bên Aán có lưỡng hợp đặc biệt là mandala coi
như có pha tròn vuông, nhưng khi xét kỹ thì sẽ thấy đó chỉ có như một kỷ
niệm của một thời, thí dụ của Dravidien, nhưng vì Dravidien không nắm
được lèo lái văn hóa, nên mandala không phát triển ra các thứ như bên
ngũ hành (thí dụ ra Hà Đồ, Lạc Thư, Hồng Phạm, Cửu Trù…) để đi vào
đời sống thực sự. Và vì thế văn hóa Aán Độ cũng giống văn hóa Tây Aâu
thiếu thống nhất: quý tộc theo Vichnou và Krishna. Trung lưu theo Jain
và Buddism. Dân chúng theo đạo phong nhiêu Shiva là Thần mặt trời.
Nếu thực có tròn vuông thì văn hóa có thống nhất tức chỉ có một như bên
các nước Việt Nho, mà chúng ta sẽ bàn về cơ cấu ngũ hành.
3. Ngũ hành
Điều trước hết là có năm hành: Kim, Mộc, Thuỷ, Hỏa, Thổ. Thứ hai là
mỗi hành đi với một phương, một số, màu v.v… như mấy hình sau:

Điều khác thứ ba rất căn bản là hành Thổ đại diện cho vô thể tức không
có mùa, có phương riêng. Nên ta phải vẽ ngũ hành theo hình sau …… thì
hình này làm ta tưởng Hành Thổ cũng như 4 hành kia, kỳ thực thì không
vì nếu ta tháo rời 4 ô ra thì thấy hành giũa không còn: đúng là vô thể.
Nhưng chính cái vô thể đó làm cho ngũ hành trở nên cơ cấu uyên nguyên
tức có sự giao thoa giữa Hữu với Vô. Chính vì sự pha trộn này mà ngũ
hành làm được việc mà bảng tứ tố không làm được là cộng tròn với
vuông, tức giàn hòa giữa vô với hữu, để đi lên bậc cuối cùng của trí thức
con người và trở nên mẫu mực có tính cách phổ quát và bất khả li tức
vững vàng muôn thưở và gọi là Đạo, mà Đạo thì bất khả li (khả li phi đạo
dã). Triết lý An vi chia tâm thức con người làm ba đợt là bái vật, ý hệ, và
tâm linh mà ta có thể gọi bằng danh xưng khác là thần thoại, lý trí, đợt
tương đối thuyết. Cả tứ tố lẫn ngũ hành đều hơn kém đã vượt giai đoạn
thần thoại (bái vật) để lên giai đoạn lý trí; nhưng tứ tố ở lì lại lý trí nên
đốc ra duy ý, ý hệ tức là bám vào có một bên: hoặc hữu hoặc vô, không
nhìn ra trường hợp thứ ba, vì thế ngày nay tứ tố chỉ được nhắc tới như
một kỷ niệm lịch sử, vì người ta coi nó là bảng vật lý cổ hủ đã bị vượt
qua rồi. Ngược lại ngũ hành không còn ở bình diện vật lý mà đã vươn lên
đợt siêu hình, trở nên phạm trù triết lý, hơn nữa có đầy tính chất tâm linh
bao gồm cả hữu lẫn vô, nên triết an vi gọi là tâm linh, còn riêng ngày nay
có thể nói là thuộc giai đoạn tương đối thuyết, vì tương đối thuyết cũng đi
vào “hữu và vô” với combinary logique ngược lại ý hệ thì “hoặc hữu,
hoặc vô” thuộc logique một chiều.

Chính vì chỗ này mà Nho đựơc gọi là Minh triết khi hiểu minh triết là tài
hoà hợp những cái thái cực như giữa Vô với Hữu: như sẽ được chứng tỏ
trong các phát triển của ngũ hành: nào vòng sinh vòng khắc, Hà Đồ, Lạc
Thư, nào Hồng Phạm, Cửu Trù, Minh Đường, Thái Thất… và bao câu
sách khác trong Nho cũng chỉ là bày tỏ sự khác biệt nền móng nọ, nó làm
nảy sinh ra biết bao nét đặc trưng khác mà chúng tôi đã bày tỏ trong
nhiều sách như đã nói dài trong Chữ Thời, Sứ Điệp nên ở đây chỉ nêu ra
ít nét nền tảng để ngũ hành được nhận ra là chìa khóa dùng được đặng
phanh lần ra cả về đạo lý lẫn nguồn gốc.
Về đạo lý thì như câu châm ngôn “chí trung hòa” với ba chân lý gốc rễ đi
với số 2, 3, 5 đã nói phớt qua ở bài đầu. Chúng làm nên chiều kích tâm
linh, nên triết cũng gọi là Đạo có sức gây ảnh hưởng như tôn giáo. Triết
mà lại ảnh hưởng như tôn giáo, đó là nét đặc trưng. Phải là Đạo mới làm
được như vậy. Chỉ có một số nhỏ triết lý Aán đạt được nhưng rồi lại ngả
ra tôn giáo như kiểu Phật giáo tức là phần nào đi lùi lại thời thần thoại, do
sự không thành công vươn lên đợt tâm linh, để biến triết thành Đạo học,
tức lý trí kiêm được cả tâm linh, bao gồm sự hiện thực một cách tận tâm
tận lực như tôn giáo vậy và gọi là văn hiến, tức những người hi hiến thân
tâm cho văn, y như tu sĩ hi hiến thân tâm cho tôn giáo, nhưng khác ở chỗ
tu sĩ chưa dứt khoát với giai đoạn trước, nên nhiều vấn đề thuộc lý trí phê
phán đã đựơc đẩy đến hết mức có thể gọi được là đầy bến bờ vô thể, tức
cũng là bờ của linh thiêng, làm cho rõ là triết lý mà lại tác hành như tôn
giáo vậy. Đây là hiện tượng mà chúng ta cần nghiên cứu.
4. Sự hữu bản mạt
Nói đến tôn giao là nói đến vị Chúa Tể ngự trên trời cao mà ta phải tôn
thờ vâng phục. Thượng Đế đó thấy được trong quan niệm của Aristotle.
Ngài là đấng cao cả ngự mãi bên trên chín tầng trời rất xa con người. Con
người ở mãi sâu dưới đất: liền bên dưới là cả một cõi âm ti đang sôi sùng
sục. Trong tình thế đó con người phải sợ sệt uy quyền Ngài đến cùng cực,
vì Ngài có thể bỏ mình xuống âm phủ bất cứ lúc nào. Bởi thế phải hãi sợ
và thờ phượng Ngài.
Theo quan niệm trên ta thấy rõ sự kính tôn phụng thờ như vậy có tính
cách nô lệ vì thuộc loại cưỡng hành. Giai đoạn này có thể gọi là toàn tròn.
Đó là thái độ tôn giáo gọi được là toàn thần hay duy thần. Ngày nay
người ta gọi đó là giai đoạn vong thân, tức không có con người như một
tự thể có nhân vị. Vì thế tôn giáo nào cũng phải cố dần dần nhân bản hóa
thần linh tức kéo thần lih xuống với con người hay đưa con người lên,
nhiều khi để chắc ăn thì chối tuột Thượng đế để con người được làm chủ
nhân, không còn sợ vong thân nữa như hầu hết triết lý vô thần, hay có
nhận thần, nhưng đặt thần ở mãi trên cao tắp tít không ăn nhằm chi tới
con người.
Nói theo cơ cấu thì đó là toàn vuông, và vì vấn đề tròn vuông không nối
kết được nên tôn giáo thiếu triết, toàn tin suông thành ra lý trí con người
chưa được thỏa mãn. Trái lại, triết thiếu niềm tin, cậy, mến nên không
ảnh hưởng gì cả hay nếu có thì cũng chỉ được chút lý trí, nhưng lý trí mà
thiếu tình thiếu chí thì vô hiệu. Vì thế lý tưởng phải là giao chỉ: tức nối
trời với đất hay nối triết lý với tôn giáo để làm nên Đạo. Đạo là dấu
trưởng thành của con người. Nho đã thành công điều đó mà bảo chứng là
Ngũ hành, là Hồng phạm, nên tuy là triết mà ảnh hưởng như tôn giáo.
Triết là vuông, là lý trí, là óc khoa học, mà lại đi đôi với tròn là thiên, là
tâm linh, nên ảnh hưởng như tôn giáo, nhưng hơn tôn giáo ở chỗ lý trí
được thỏa mãn, hơn triết học duy lý ở chỗ tâm tình ý chí đều được vun
bồi nuôi dưỡng. Đó là Đạo “Đạo bất khả li, khả li phi đạo dã” tức đạo thì
siêu thời gian, thật muôn thưở.
Đây là chỗ cần ghi nhận, vì nhiều người cố đi tìm thuyết lý tối tân. Làm
như vậy là tỏ ra chưa nắm được đạo lý. Đạo lý làm gì có tối tân với tối
cổ: nó vượt ra khỏi thời gian rồi: nó thuộc cõi muôn thưở, đời nào cũng
thế; y như 2 với 3 bao giờ cũng là 5, làm chi có mới với cũ mà phải đi
tìm. Còn lo đi tìm cái mới là tỏ ra chưa nắm được triết chân chính nên
chưa là triết nhân trung thực để biết nhận ra đâu là bản gốc (hay cơ cấu
uyên nguyên). Nói vắn tắt là chưa đạt Đạo.
Chính vì thế mà ngũ hành đã không được nghiên cứu theo phương diện
cơ cấu, thành ra nhiều bài học căn bản không được nhận ra. Thí dụ ông
Robert van Gulik phàn nàn về cái quy củ rằng: “Chưa thấy sách nào giải
nghĩa thỏa đáng về hai dụng cụ đạc điền trong tay bà Nữ Oa và Phục Hy
(la vie sexuelle dans la Chine antique p.84). Đó là tại trong dĩ vãng đã bỏ
bê lối cơ cấu, mà chỉ có lối đó mới giải nghĩa thấu đáo không những hai
chữ quy củ mà còn nhiều truyện khác.
Theo cơ cấu thì Ngũ hành phải biến ra vòng trong vòng ngoài. Ta thấy
ruột vòng trong là số 5 gọi là quy, nghĩa là mẫu mực cao cả gọi là “thiên
thời” và chỉ nguyên lý mẹ: còn vuông ngoài là 4 số thành chỉ nguyên lý
cha, tức là luật lệ tự riêng theo thổ ngơi (từng nơi). Bởi triết Việt đề cao
nguyên lý mẹ (mẹ tròn) nên trao quy vào tay Nữ Oa thái mẫu, còn cái củ
trao cho ông Phục Hy. Cái củ dùng để đo (4) góc cạnh vì thế Phục Hy
cũng có tên là ông tứ tượng, là cũng theo lý này. Về sau quu củ biến ra
“Hồng phạm Cửu trù” cùng ý nghĩa tức Hồng phạm là mẫu mực lớn, còn
Cửu trù là các việc xác định nằm trong khung của Hồng phạm. Rồi đến
Hà Đồ Lạc Thư (H.1) cũng thế: Hà Đồ là sách cha. Lạc Thư là sách mẹ.
Chữ sách hàm ý là quy luật điển chương, nên cùng nghĩa như quy củ.
Hình 1
5. Tố nguyên
Bây giờ ta hãy đi vào một đường “Tố Nguyên” là tìm về gốc ngọn của
ba bộ số nọ tức là tìm về gốc Đạo. Vậy khi cất bứơc đi tìm ta chỉ thường
gặp thấy có số 1 hay số 4, ít khi thấy 2, 3, 5. Số 1 là dấu còn ở thần thoại.
Số 4 là ở ý hệ, tức vẫn là duy. Chưa có hợp nhất: chưa có hai mà vẫn một.
Muốn gặp hai mà một thì phải tìm cho ra bộ số 2, 3, 5 chúng thường xuất
hiện cách vô lý, vô dụng, vô duyên, là cốt để cho người ta biết chúng
không làm việc đo đếm thông thường hữu lý, mà chúng chỉ là huyền số,
biểu thị những chân lý vượt tầm giác quan, nên gọi là những chân lý gốc
rễ, đi ngựơc đời như đã nhắc qua nơi khác: là số 2 chỉ biến hóa, số 3 chỉ
nhân chủ, số 5 chỉ tâm linh: toàn những chân lý đặt nền trên vô thể. Vì
thế các số biểu thị mang trong mình tính chất vô thể, bằng tính cách vô
duyên, vô ích, vô lý như có 3 chân, chim 3 mình v.v… Vì số đây là phạm
trù triệt. Số 2 thí dụ chỉ nét lưỡng hợp dual unit: nên hai mà một, một mà
ba, nghe rất vô lý nên ít có triết nào nắm được. Vậy mà khi đi vào văn
hóa Việt Nho ta thấy nhan nhả.
Trứơc hết là con số 2 xuất hiện cách uy nghi trong hai lễ Phong, Thiện để
tế Trời tế Đất. Rồi thấy ông Nghiêu ông Thuấn đều có hai con người gọi
là “Trùng Hoa”. Hai ông bà Phục Hy Nữ Oa sống cả trên đất lẫn dưới
nước gọi là “lưỡng thê”.
Rồi ta gặp trong nét giao chỉ biểu lộ bằng hai con giao long giao tay nhiều
khi cả giao chân (H.2) nó sẽ dẫn đầu cho các lối hát có hai bè như ca lý
liên, hay Trống quân, quan họ v.v…
Hình 2
Rồi tới những cặp đôi như sông núi, nước lửa, ông Cồ bà Cộc và nhất là
tiên rồng hay loài có lông vũ sống trên trời với loài có vảy như rồng sống
dưới nước, vậy mà vẫn đi đôi với nhau được. Đó là điều không có trong
các nền triết khác. Đôi khi số 2 cũng có xuất hiện nhưng rồi nghiêng sang
mộtbên như bên Perse số 2 đọa ra thần lành thần dữ, rồi thần lành thắng
thấn dữ tức được coi trọng hơn thần dữ. Vậy là hỏng vì cuối cùng chỉ có
một bên. Đó là dấu còn ở đợt thần thoại. Phải như âm dương không bên
nào hơn bên nào, mỗi bên có vị trí của nó.

Bên Aán Đô tuy cũng có chim thần là garuda và rắn naga gần giống số 2
của tiên rồng, nhưng rồi chim garuda đã mổ rắn naga thế là lại giống bên
Perse tức khởi đầu đi vào số 1: mắc chứng bệnh duy.
Nhà Chu khi mới lên chuyên dùng số 6 (tức là số 1 vì 6-5=1) chẳng biết
gì đến số 2 như được chứng tỏ trong Chu Dịch bản Kinh không hề nhắc
đến 2 chữ âm dương, cũng như không nhắc đến chữ địa xét như phạm trù
triết đối đãi với thiên (Craft 446).
Số 3. Đã có 2 thì tất có 3, bởi số 3 chỉ nhân chủ. Vì phải là con người
mạnh làm mới nối trời cao với đất thấp lại được. Có với không nối lại
thành ra có mà như không, không mà lại có. Các triết học lý niệm thiếu số
2 nên khử trừ số 3 gọi là nguyên lý triệt tam: tiers exclu. Trái lại đi vào
Việt Nho ta gặp có đầy số 3. Trước hết là con “thiềm thừ” cóc trời chỉ có
3 chân. Rồi ta lại gặp chim 3 chân, cả chim 3 mình nữa. Rồi đến thuyết
Tam hoàng gồm Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông. Đến sau Tam Hoàng được
công thức hóa thành Tam Tài là Thiên, Nhân, Địa… Rồi tới nhiều ấn tích
thực xa xôi nữa như những cái chạc tìm được trong các mộ ở Phùng
Nguyên bao giờ cũng thấy đi bộ ba. Người ta suy đoán rằng tục lệ vái ba
cái, đốt ba nén hương, bàn thờ có ba bậc, đánh ba hồi trống v.v… đã có
mãi từ thời ấy.
Cuối cùng đến số 5 hậu quả của 2 + 3 ta cũng gặp lu bù nhất là trong
những việc trọng đại như các đồ tế tự: như cái lịch (hình 3) rất thời danh
nó là tiền thân của cái đỉnh bao giờ cũng có 3 chân 2 tai: các bình đèn ở
Đông Sơn cũng đều 3 chân 2 tai như vậy. Ta thấy có truyện cổ ở vùng
Thái Bình Dương chứa 3 thúng khôn với 2 hòn đá, y như 5 hòn sỏi tìm
được ở trong một cổ mộ ở Phùng Nguyên thì 3 hòn mài nhẵn 2 hòn để thô
v.v… Trẻ con Việt đọc vè:
Cái cò chết tối hôm qua
Có 2 hột gạo với 3 đồng tiền.
Một đồng mua trống mua kèn,
Hai đồng mua mỡ đốt đèn thờ vong.
Thế là ta biết con số 2 +3= 5 đã có lâu đời lắm. Sách Trúc Thư kỳ niên
nói “ông Đại Vũ có 2 tai 3 lỗ” thì ta biết ông thuộc về văn hóa Việt Nho,
còn trung thực hơn cả Hệ từ viết vào đời chiến quốc nên đã nói tham
lưỡng 3-2 thay vì lưỡng tham 2-3 hay vài ba tức âm dương thay vì dương
âm 3-2.
Hình 3

Thôi bấy nhiêu tạm đủ để ta thấy số ngũ hành là chìa khóa giúp ta tìm về
nguồn một cách đầy thích thú, nhất là nguồn Đạo, tức lối sống bao gồm
cả Vô lẫn Hữu. Vậy mới là Đạo: Nhất âm nhất dương chi vị đạo”: duy âm
hay duy dương, duy vô hay duy hữu đều không là Đạo. Tôn giáo duy âm
không là Đạo. Triết lý duy dương cũng không phải là Đạo. Đạo phải kiêm
cả 2, cả âm lẫn dương, cả vô lẫn hữu.
6. Quốc bảo
Đó là đại để nguồn gốc về cơ cấu uyên nguyên gọi là ngũ hành đã xuất
hiện không biết từ lúc nào (xem Need II. 256) và được truyền tụng ở Việt
như quốc bảo dứơi hình thức “sách ước gậy thần”. Về điểm này có nhiều
dịch bản, sau đây là dịch bản gọi là sách ước của Thần Tản Viên, câu
truyện như sau:
“Thần xưa kia nguyên là một đứa con bị bỏ rơi giữa rừng được một người
tiều phu gặp đem về nuôi, đặt tên là Kỳ Mạng. Sở dĩ thần có tên này là vì
trứơc khi gặp cha nuôi đứa bé mới lọt lòng đã được dê rừng cho bú, chim
chóc ấp ủ cho khỏi chết. Kỳ Mạng chóng lớn khôn, theo nghề cha nuôi
ngày ngày vác rìu vào rừng đốn củi.
Một hôm Kỳ Mạng đốn một cây đại thọ. Cây to lớn quá chặt từ sáng tới
chiều mà vẫn chưa hạ nổi. Bỏ dở ra về, đến sáng hôm sau trở vào rừng,
Kỳ Mạng hết sức ngạc nhiên thấy những vết chặt đã dính liền lại khắp
thân cây. Kỳ Mạng lại xách rìu chặt nữa, suốt ngày ráng hết sức không
xong, đến ngày thứ hai trở lại cũng thấy cây vẫn nguyên vẹn như chưa hề
bị động tới. Không nản chí, Kỳ Mạng lại ra công cố chặt nữa, quyết hạ
cho bằng được, rồi đến tối ở lại nấp gần cây rình xem sự thể. Vào khoảng
nửa đêm, Kỳ Mạng thấy một bà lão hiện đến, tay cầm gậy chỉ vào cây, đi
một vòng quanh cây, tự nhiên những vết chặt lại liền như cũ. Kỳ Mạng
nhảy ra khỏi chỗ nấp, tức giận hỏi bà lão sao lại phá công việc làm ăn của
mình. Bà lão nói:
– Ta là thần Thái Bạch, ta không muốn cho cây này bị chặt, vì ta quen
nghỉ ngơi ở trên cây này.
– Không chặt cây thì tôi lấy gì mà nuôi sống?
Bà thần liền đưa cho Kỳ Mạng cái gậy rồi biến mất. Được chiếc gậy
thần, đời sống của Kỳ Mạng từ đây có phần dễ chịu: chàng đem báu vật
ra cứu giúp những người bệnh tật, ốm đau.
Một hôm Kỳ Mạng đi chơi gắp xác một con rắn nước bị trẻ chăn trâu đập
chết vứt ở bờ sông, mới dùng gậy thần chỉ cho rắn sống lại, bò xuống
nước. Vài ngày sau có một người lạ tới tự xưng là Tiểu Long Hầu, đem
nhiều châu báu tạ ơn Kỳ Mạng đã cứu sống mình hôm rồi, nhân lúc đi
chơi bị trẻ đánh chết. Thần Tiểu Long lại mời Kỳ Mạng xuống chơi dưới
thủy phủ.
Kỳ Mạng nhận lời theo con Long Quân rẽ nứơc xuống biển chơi, được
Long Quân mời ở lại ba hôm bày yến tiệc tiếp đãi nồng hậu và dẫn chàng
đi xem khắp thế giới dưới nước. Khi về Kỳ Mạng lại được Long Quân
biếu cho một cuốn sách ước, có thể nhờ sách mà cầu ước chuyện gì cũng
đều được thực hiện cả. Kỳ Mạng sung sướng đem sách về trần.
Cuốn sách ước chỉ gồm có 3 tờ bằng da cá, ngoài bọc vỏ rùa. Ba trang
sách chứa một tính chất: kim, mộc, hỏa… chỉ thiếu một trang về thuỷ
mà Long Quân đã giữ lại.
Kỳ Mạng mới bắt đầu thử xem linh nghiệm ra sao, mới mở sách ra, đặt
tay vào trang hỏa khấn hứa, được nghe thấy sấm sét giữa lúc trời quang
mây tạnh. Tức thì chỉ trong nháy mắt trên trời vần vũ dầy đặc, rồi chớp
sáng, sấm sét nổi lên rung chuyển cả bầu trời.
Kỳ Mạng mỉm cười đắc ý, đặt tay vào trang mộc ước ao thấy một rừng
cây di động. Tức thì những cây ở trước mặt chàng tự nhiên bỗng tiến
bước lên như một đạo quân.
Kỳ Mạng gấp sách lại, thấy mình uy quyền sức mạnh không còn ai sánh
kịp. Rồi từ đấy lang thang đó đây, cứu giúp đời.
Cuối cùng chán cảnh trần tục, Kỳ Mạng lên núi Tản Viên ở luôn lại đấy.
Với cuốn sách ước, chàng dựng lên những lâu đài cung điện nguy nga
giữa chốn núi rừng hoang vu. Từ đó tiếng đồn đi rằng núi Tản Viên do
một vị thần pháp thuật thần thông cai quản. “
GIẢI NGHĨA
Hãy giải nghĩa mấy chữ quan trọng. Chữ thứ nhất là Kỳ Mạng
Kỳ Mạng có nghĩa là “làm chủ vận mệnh của mình” thuộc về chính mình
tựa làm chủ lấy mình. Trên đã nói tâm thức con người chia ra ba giai
đoạn: bái vật, ý hệ, tâm linh.
Ở Bái vật thì thần làm chủ, cầm vận mệnh con người: cái gì cũng thần
hết, con người chưa làm chủ được cái gì, hoàn toàn còn vong thân.
Đến giai đoạn hai con người cố tìm cách lấy lại chủ quyền vận mệnh
mình bằng giải nghĩa vũ trụ cách độc lập bên ngoài các thần và đó là lý
do nảy sinh các hệ thống ngũ hành. Bứơc này thuộc ý hệ, nhưng ý hệ mới
đạt được chủ quyền có một phần. Vì hệ thống ngũ hành chưa hoàn chỉnh,
mới là tứ tố còn hoàn toàn duy vật, mới có địa chưa có thiên, vì thế ở
khởi đầu nhiều bảng tứ tố còn phải đưa thần vào chỉ huy, thí dụ triết gia
Empedocles đã đưa vào bộ tứ tố của ông 4 thần là Zeus, Hera, Aidone,
Nestis… Như vậy là phần nào lại lộn trở lại Bái vật thần thoại mất rồi,
chưa kể là Kỳ Mệnh được, mà còn là thiên mệnh địa mệnh cũng gọi là
định mệnh, mà tiếng Hy Lạp gọi là moira: nhân loại cứ gập gình ở giữa
hai đợt này: hết thần thoại đến ý hệ. Ý hệ không xuôi lại mon men trở về
thần thoại như Aâu Mỹ, nhưng cả hai khuynh hướng này đều có chỗ vong
thân. Phải chờ đến bứơc thứ ba mới tìm ra lối thoát.
Bước ba này không còn tứ tố nữa mà là ngũ hành: bốn hành chung quanh
chưa phải là sự vật mà mới là tượng của sự vật (tại thiên thành tượng).
Còn hành thứ năm chỉ Thần. Vì “thần vô phương” tức cũng là Con Người
Đại Ngã nên nói “Nhân giả ngũ hành chi đoan dã” –Người là đầu mối của
ngũ hành. Trong truyện nói là Kỳ Mạng cũng thế. Vì làm chủ vận mạng
cũng là nắm phần sáng kiến. Tự đấy Kỳ Mạng không còn bị lệ thuộc vào
sự vật (chỉ bằng đốn củi kiếm ăn) mà được rảnh rơi đi cứu cấp tha nhân,
làm nhiều việc ân nghĩa. Đây là bước tu đầu tiên dưới quyền nguyên lý
mẹ là Nữ Thần Mộc biểu thị bằng lời dặn chớ có chặt cây linh.
Bứơc sau học thêm với nguyên lý cha biểu thị bằng Long Quân sống
dưới thuỷ phủ. Hạn học cũng phải 3 ngày (nhớ bàn thờ bao giờ cũng có 3
cấp) và mãn khoa thì lãnh được quyển “kinh vô tự” gồm có 3 tờ bằng da
cá và bìa bằng mu rùa, tức những sản phẩm sống dưới nước, vì chữ rùa
này nên sau sách được gọi là sách rùa (quy thư) tức Lạc Thư, đó là sách
của đất Lạc mà vua là Long Quân, thành ra Lạc Long Quân, dân chúng
gọi là sách ước.
Đựơc sách rồi Kỳ Mạng chỉ để tay lên có hai trang hỏa và mộc. Hỏa số
2 mộc số 3. Đó là hai số của Việt tộc đã chọn và gọi là vài ba. Nho kêu là
lưỡng tham. Đó là hai số làm thành số 5. Số 5 này sẽ làm nên gậy thần có
9 đốt với đầy hiệu lực: tương truyền rằng ai biết nắm vào đốt thứ 5 thì
nắm được vận mạng cả khi sống cũng như khi chết. Gậy thần chẳng qua
là sách rùa gồm bởi 9 số mà số 5 ở giữa, cộng chiều nào cũng ra số 15
nên gọi là “ma phương” nghĩa sâu xa là đạo thấm vào mọi việc. Kinh
Hùng nói bóng là vua Hùng dùng huyền thuật mà thần phục được 15 bộ
nước Văn Lang, cũng có tên khác là Tản Viên. Viên là tròn chỉ bằng số 5
cũng gọi là cái quy. Quy phải bao gồm cả 4 phương (cái củ). Vẽ đơn sơ
thì ra mẹ tròn con vuông tức viên phải tản ra ôm lấy 4 góc chỉ vạn sự vạn
vật: việc nào cũng phải làm đúng Đạo, đúng nguyên lý mẹ vì thế gọi là
Tản Viên. Còn nếu vẽ đủ cả thì ra Lạc Thư tức là sách của dân Lạc do
Lạc Long Quân ban cho, có một sức biến hóa dị thường, nên sau gọi là
Kinh Dịch, nghĩa là biến đổi mà chúng ta sẽ bàn ở chương sau.
Ở đây hãy nhận xét ít điều về sự suy thoái của đạo như vừa kể trên. Về
sách ước gậy thần thì đúng là một trường hợp đánh mất trọn, nên sách
ước gậy thần chỉ còn là câu chuyện cổ tích không gây âm vang gì vào
Đạo, nói ngay việc làm tưởng nghĩ đến Đạo cũng không nốt. Lý do phải
có nhiê2u và phiền toái, nhưng điều nổi bật có thể nhận ra được, là ngũ
hành không còn được dùng như cơ cấu tức đi với các số. Vì nếu cho đi
với các số thì mới có đường thấy được con số 5 do con số “vài ba” ứng
dụng ở đây: số 2 là 2 trang trong quyển sách chỉ vọn vẹn có 3 trang: lúc
ấy các số trong truyện có thể giúp cho thấy số 2-3 là thành tố của ngũ
hành. Rồi trong hai trang được đọc cũng có số 2-3 tức trang hỏa số 2,
trang mộc số 3 là 5, 5 nhân với 3 ngày ở dưới thủy phủ thành ra số 15 ma
phương, hay 15 bộ nước Văn Lang cũng vậy. Thế là ta biết sách ước gậy
thần không phải là truyện cổ tích suông mà đã gây âm vang vào nước
Văn Lang huyền sử và cuối cùng chính là truyện bản thân của ta.
Nếu xét về nguồn gốc thì ta thấy sach ước đi trước Lạc Thư Hà Đồ. Vì
trước hết sách ước đi với số 2, 3, 5. Thứ đến lại ở dưới biển: nó bao la
hơn là sông Hà sông Lạc. Huống chi Lạc Thư Hà Đồ lại đi tới số 9 như
vậy đó quả là phó sản của ngũ hành tức của sách ước gậy thần vậy.
Bây giờ chúng ta đưa ra một thí dụ khác về cơ cấu uyên nguyên lý què
quặt. Đó là câu “thiên bất túc tây bắc, địa bất mãn đông nam: trời không
đủ về phía tây bắc, đất không đầy về phía đông nam”. Người ta thường
giải nghĩa bằng câu truyện có quan đại thần tên Kang-Hui hoặc Cộng
Công toan làm một cuộc đảo chính để cướp chính quyền, nhưng bị thất
trận mới đâm đầu vào núi Bất Chu làm nẻ trời sụp đất. Vì thế trời phía tây
bắc không đủ (bị hở). Còn đất phía đông nam thì nghiêng đi nên các sông
nước Tàu đều chảy tự tây bắc sang đông nam. Đó là lối giải nghĩa có vẻ
thực sự xảy ra như thế. Nhưng nhìn theo cơ cấu uyên nguyên thì thấy quả
đó là lối bẻ quặt Đạo xưa, tức truyện không nói về hình thể đất đai mà là
nói về Đạo, tức không nói chuyện xa xưa bên Tàu mà có ý nói chuyện
ngay ở bây bây giờ và thiết đến bản thân mỗi người, là chúng ta không
được ngưng đọng ở một ý niệm nào, mà phải cố vươn lên đợt chu tri (biết
tròn đầy hiểu là cả âm lẫn dương, cả trong lẫn ngoài) có vậy mới tri thiên
mệnh, là biết trời. Còn “trệ ư nhất ngưng” (ngưng đọng lại một góc) thì là
húc đầu vào cột chống trời, gọi là Bất Chu chi sơn. Đấy mới là nghĩa
chính, còn nghĩa nứơc mưa chảy về phía đông chỉ là nghĩa tuỳ phụ, nghĩa
áp dụng vào thực thể, có đúng cũng là truyện may rủi, chí như sự trật
khỏi nghĩa uyên nguyên xuống nghĩa hiện tượng thì đã rõ ràng. Bởi làm
chi có người húc đầu vào núi mà đạt công hiệu lớn lao như vậy đâu. Đã
thế lại cắt rời truyện ra khỏi cái toàn thể của nó còn bao gồm nhiều truyện
khác như truyện bà Nữ Oa nấu đá ngũ hành mà trát lại trời phía tây bắc.
Truyện trên đã hiểu xuống nghĩa hiện tượng thì truyện Nữ Oa cũng trở
nên nhạt nhẽo vô duyên và chẳng còn chi ăn chịu với nhau.
Lý do tại vì đã bỏ mất con số ngũ hành tức là bỏ mất chìa khóa mở vào
kho ý nghĩa để soi sáng cho các truyện kia. Xưa nay ngũ hành chỉ đọc là
Kim, Mộc, Thuỷ, Hỏ, Thổ chứ có ai nghe thấy số nào đi với hành nào
đâu. Đấy là điểm một.
Điểm hai là nếu có nhớ rằng số lẻ chỉ trời số chẵn chỉ đất thì mới có hy
vọng hiểu câu thiên bất túc tây bắc, vì đất (phía tây) đã chiếm hết 4 (bắc)
trời chỉ còn 1 thì làm sao đủ được mà chả bất túc. Còn phía đông nam thì
trời 3 mà đất có 2 thì đất không thể đầy được “địa bất mãn đông nam”. Vì
vậy bà Nữ Oa phải nấu đá ngũ hành để trát lại trời phía tây bắc, để cho
trời đất quân bình có 4 góc. Điều đó chỉ bằng thập tự nhai có 4 cành đều
nhau gọi là “quân thiên” celestial equilibrium tức là mức độ chí thiện, nó
chi tiết thì đó là số 5 thành bởi 2+3 gọi là Thái Hòa. Vậy mà điều này khó
giữ được lắm, thường nghiêng ra một góc gọi là duy dương nên phải đưa
nguyên lý mẹ vào để lập lại thế quân bình. Nguyên lý đó là 2+3 hay số 5
cũng gọi là hành thổ. Phải làm phép “an thổ”. Đó là ý chính của truyện bà
Nữ Oa luyện đá vá trời; nấu đã ngũ hành là phải tuy luyện, phải “an thổ”
(như thiền) phải thực thi nhân nghĩa, chứ không chỉ có chúi đầu vào việc
cầu cơm, kiếm tiền. Chỉ lo cho đời sống vật chất như vậy thì gọi bóng là
húc đầu vào núi Bất Chu, nên trời sụt, nghĩa là tâm linh suy thoái, nói
bóng là trời không đủ “thiên bất túc tây bắc”. Có hiểu thế mới trúng nghĩa
huyền thoại, nó không nói truyện trời với đất mà là nói truyện người nói
truyện Đạo. Để hiểu như vậy thì phải chú ý đến các con số chúng sẽ giúp
lần ra nẻo về chính Đạo.
Để hiểu vai trò các con số trong Việt Nho cần nhớ về ba chặng lớn mà
tâm thức con người phải trải qua là Bái vật, Ý hệ, và Tâm linh. Bái vật
cũng goi được là đợt thần thoại hay là dị đoant ức là giai đoạn mà lý trí
con người chưa phát triển nên chỉ biết có tin. Hết mọi người đều trải qua
như thế, cả đến đoàn thể cũng vậy. Trẻ nhỏ lặp lại giai đoạn bái vật tức
chỉ có tin chưa biết phê bình, đến tuổi nào đó quãng 15 thì mới khởi sự
biết tự suy xét, tự nhận định. Loài người nói chung cũng thế. Ban sơ toàn
có tin, nhưng đến một lúc nào đó thì cố vươn lên đợt lý trí. Vậy ấn tích
của những bước rẽ đường này là các con số. Có những Đạo được đặt căn
bản trên con số như của Pythagore hay đời Tống có Thiệu Ung, bên Crète
người ta thờ số 3… Trong Việt Nho có đầy số và sau đã kết tinh vào ngũ
hành cùng các phó sản như Hồng phạm, Cửu trù, Hà Đồ, Lạc Thư. Ta
thấy trong khoa học vật lý kỹ thuật cũng vậy chỉ tự khi những nhà khoa
học như Descartes, Galilèe đem toán học vào vật lý thì tự đấy khoa học
mới tiến được. Nhưng số của triết khác toán của vật lý, nó không có ý đo
đếm mà chỉ để biểu thị cái phẩm tính, cái dạng thức của sự vật.
Đó là điều mà ngừơi ta sẽ quên đi, hay mất ý thức về sự quan trọng của
các số. Có hai lý do gây ra sự quên này. Trước hết lý do chính đáng là
đường tiến hóa phải đi nữa, phải vượt qua lý trí để lên tâm linh. Đã lên
tâm linh thì còn cần chi đến số, số ví như bè để sang sông, qua được sông
rồi đâu còn cần bè. Lý do thứ hai nằm trong đợt vật lý, đó là khi khoa học
phát triển mạnh thì số chỉ còn dùng để đếm đo. Thế là người ta quên đi
vai trò ban đầu của các huyền số.
Sự quên này không quan trọng lắm khi người ta duy trì được tinh hoa
Đạo lý, nhưng đến lúc Đạo suy vi, mà người ta muốn truy tầm sự chính
tông của Đạo thì phải đi một đường tố nguyên, lúc ấy vai trò các con số
trở nên cần thiết. Nếu không nắm được thì không hiểu được các huyền
thoại. Mà huyền thoại là phần rất quý giá trong gia tài thiêng liêng của đất
nước.
Chính vì thế mà bộ triết này chuyên chú khai quật các truyện cổ của Việt
tộc mục đích là tìm ra đạo lý chính tông để noi giữ. Trong khi tìm kiếm
như vậy thì nhân tiện cũng nhận ra Đạo lý phát nguyên từ đâu. Tức Đạo
quy gồm vào số 5 (do 2-3). Vậy ta thấy số 2+3=5 phát xuất ở đâu trước
thì biết Đạo phát nguyên từ nơi đó. Đó là Việt tộc.
Truyện Bàn Cổ
Truyện này gốc ở Quảng Đông nơi có “mồ mả của Bàn Cổ”. Truyện
mới được đưa vào quỹ đạo Tàu từ thế kỷ thứ ba trong sách “Tam ngũ
lịch” của Từ Chỉnh.
Đây là một nhân thoại cao cả nhất nói lên óc tự cường, tự lập, tự làm chủ,
nhưng ngừơi ta đã hạ thấp truyện xuống đợt sử ký bằng đồng hóa với chó
Bàn Hồ của dân Dao và Miêu. Đấy là kiểu sử ký hóa thô kệch. Vì truyện
Bàn Cổ có tầm vóc bao la như vũ trụ nói lên tinh cốt của nền nhân chủ
Việt tộc, sao dám đặt ngang với chó Bàn Hồ. Chữ Bàn Cổ có nghĩa là đời
cổ quấn khúc như rồng Bàn Quỳ = Coiled up antiquit nghĩa này hợp môi
sinh tinh thần của Lạc Việt có vật tổ là Bàn Quỳ. Hầu chắc truyện thuộc
giai đoạn văn hóa Hòa Bình đã xuất hiện lối 10.000 trứơc mà ngày nay
người ta thám quật được rất nhiều ấn tích thí dụ tại di chỉ “Đại Bôn
Khanh” bên Đài Loan và lan rộng cả lên miền sông Hoài, lên mãi tận
Long Sơn bắc Tàu (Kwang Chih Chang tr.85).
Truyện Nữ Oa
Bà Nữ Oa đội đá vá trời, vì trời bị thần Cộng Công làm xiêu lệch. Đó là
trang nhân thoại tuyệt vời nhưng đã bị sử ký hóa thay Cộng Công bằng
một quan đại thần tên Kang Hui toan cướp chính quyền nhưng thất bại
nên đâm đầu vào núi làm trời sụt phía tây, đất lệch sang phía đông, nên
trăng sao đều tiến về phía tây, còn các sông chảy về phía đông. Giải nghĩa
như vậy đã hẹp nghĩa còn bỏ sót việc Bà cất 4 chân rùa kê lại đất cho yên.
Giải nghĩa theo lối tâm linh thì trời sụt ở phía tây bắc. Đó là góc 4-1 trong
ngũ hành nó chỉ người duy vật vì hành kim phía tây số 4, bắc số 1 tức đất
có đến 4 mà trời chỉ có 1 nên nói “thiên bất túc tuy bắc”. Còn đất phía tây
quá nhiều nên làm cho đất không còn đủ bên đông (địa bất mãn đông
nam) chỉ có 2 vậy phải lập lại quân bình cho tâm vật cân đối. Cụ thể là
làm phép “an thổ” tức là tĩnh tâm. Xưa chỉ bằng 4 tuần cuối mỗi mùa gọi
là tứ quý. Tuần tứ quý là những ngày dùng để tĩnh tâm gọi bóng là Bà
chặt 4 chân rùa là dứt lo thế sự 1 tuần để bơm linh lực cho tâm hồn khỏi
chìm sâu vào vật chất. Sách “phong tục thông nghĩa” (của Ứng Thiều thế
kỷ thứ 2) còn nói là Bà sinh ra loài người cũng như lập ra phép hôn phối
thì ta phải hiểu là phép “an thổ” tức là dọn đất cho sự xuất hiện của con
người đại ngã (đôn hồ nhân). Còn hôn phối hiểu là linh phối đất trời, tâm
vật.
Cắt liên hệ với Trời
Ngày xưa loài người giao thông được với Trời và mọi sự xảy ra yên ổn.
Nhưng sau vì Cửu Lê làm loạn thứ tự nên Trời cứ xà xuống lấp cả đường
đi của con người. Đế Chuyên Húc mới sai Trùng Lê cắt đường không cho
Trời xuống quấy rầy người nữa. Tự đấy ngừơi ta lại được bình an lo công
việc của mình.
Đây là câu truyện mà ta có thể nói là diễn lại ý câu “Trời Đất giữ đúng vị
trí của mình thì vạn vật được nuôi dưỡng”, còn khi đất quá đất (duy vật)
hay trời quá trời (duy tâm) thì con người khổ luỵ. Nói bóng là trời xà
xuống quá thấp làm ngãng đường con người như khi phải thiêu trẻ để tế
trời, hay gìm con gái xuống sông để làm vợ Hà Bá v.v…
Đại để nghĩa lý câu truyện là thế, nhưng vì khuynh hướng cố lịch sử hóa
huyền thoại, nên đưa ra nhiều dịch bản khác nhau, trong đó có dịch bản
của Kinh Thư (Lữ Hình) với vai trò của Trùng Lê như trên. Trùng Lê có
thể hiểu là 2 lần Cửu Lê (thì ra số 18, là một trong những bộ số riêng biệt
của Cổ Việt). Trong sách Quốc ngữ thì nói Trùng Lê là hai người: Trùng
thì nâng trời lên, còn Lê thì đè đất xuống. Chung quy cũng là cố hiện thực
câu “thiên địa vị yên, vạn vật dục yên”.
Hậu Nghệ bắn 9 mặt trời
Đời vua Nghiêu có 10 mặt trời xuất hiện làm cho cây cối muốn cháy,
vua Nghiêu phải treo giải thưởng cho ai giải toả được nạn này sẽ gả công
chúa cho. Có Hậu Nghệ ra bắn được 9 mặt trời, còn để lại có một. Từ đấy
trái đất mới được ôn hòa.
Đây là truyện cùng biểu diễn một ý như truyện trên là trời quá trời, còn
đây là mặt trời quá mặt trời. Câu truyện có thể xuất hiện vào lúc con
người đang bỏ tục thờ mặt trời để tiến lên giai đoạn thờ trời (xem Sứ
Điệp, chương III). Hậu Nghệ được truyền tụng là được Tây Vương Mẫu
cho cây thuốc trường sinh. Oâng ta đưa về trồng bên đông nhà hằng ngày
đi đâu thì dặn vợ tên là Thường Nga rằng có đi đái thì đái đằng tây, chớ
đái bên đông mà cây dông lên trời. Dặn đi dặn lại làm vợ phát cáu: nói
mãi, đã vậy để bà đái cho mà coi, thế là cây tự nhiên bay lên đến cung
trăng. Chồng về chỉ còn kịp bám lấy chân vợ, lên đến mặt trăng rồi thì
Thường Nga bị hóa ra Thiềm Thừ là cóc ba chân, Hậu Nghệ hóa ra thằng
cuội ngồi gốc cây đa. Đại ý là chớ khinh Đạo lý chứa trong 2 bộ số 2-3.
Vì làm thế tất sẽ ngả sang bên Tây với số 4-1. Đó là duy vật chứa toàn
truyện dối dá lừa bịp…
Lụt cả với ông Đại Vũ
Truyện Đại Vũ thì ai cũng có nghe Vũ là con ông Cổn giúp việc vua
Thuấn trị thuỷ thành công nên đựơc lên ngôi vua Thuấn như ghi trong
thiên Vũ Cống của Kinh Thư, nhưng quả tang đó là đã lịch sử hóa truyện
huyền thoại mà ta còn thấy được một số dấu vết: như ông Vũ có 2 tai 3
lỗ, hoặc khi ông đào xuống sâu thì gặp Phục Hy Nữ Oa đang ôm nhau.
Oâng ăn trộm thứ đất “tức thổ” là thứ càng đào xuống càng thêm lên.
Trong việc trị thuỷ ông được giúp việc do con rồng có cánh nó đi trước
lấy đuôi về đường cho ông. Oâng truyền cho 2 quan giúp việc bước đi để
đo đất thì thấy đất hoàn toàn vuông mỗi chiều 233.500 dặm. Có lúc ông
biến ra con báo, vợ đưa cơm trông thấy liền chạy và hóa ra tượng đá.
Oâng đến đòi bà trả con, tượng đá liền “mở ra” cho con chui ra nên con
gọi là Khỉa. Lại còn vụ ông Cổn hóa ra gấu, ra cá, ra ba ba (three-legend
turtle). Xem bấy nhiêu đủ biết nói ông giúp vua Thuấn trị thuỷ chỉ là sử
ký hóa thần thoại, tin đó là lịch sử thì quả là ngây thơ. Các nhà nghiên
cứu đều cho đó là thần thoại, còn tôi cho đây là một nhân thoại nói lên
sức mạnh của con người sửa sang đất cho ra nơi ở tốt lành. Lụt không để
phạt tội mà để con người có dịp phát triển khả năng tác hành hết cỡ. Đó là
truyện khởi đầu văn minh.
Tóm lại
Xem qua 5 huyền thoại người ta có thể thấy rõ 2 dòng văn hóa, một của
Hán Nho cũng gọi là Chu Nho cố gắng lịch sử hóa thần thoại. Lối này
kéo theo 2 lối khác là ma thuật đời Hán, hai nữa là lối phê bình của học
giả đời nay tất cả đều làm mất chiều kích bao la của thần thoại, nó chỉ con
người Đại Ngã tâm linh có tầm vóc bao la như trời đất. Vì thế mà trong
truyện toàn trình bày con người hiện thực những việc mênh mông như vũ
trụ, nào Bàn Cổ xếp đặt trời đất, Nữ Oa đội đá vá trời, Hậu Nghệ bắn mặt
nhật, Trùng Lê bắt trời phải ở vị thế của mình, Đại Vũ trị thuỷ… Toàn là
những động tác có tầm vóc vũ trụ như thế cả mà con người đầy tác động
tính nên tránh được những truyện sáng thế ký mà trong đó con người
không góp phần tích cực được như trong nhân thoại. Cũng vì là nhân
thoại nên né tránh những gì là bạo động, những gì chết chóc khủng khiếp,
là những cái vượt tầm mức con người. Còn đây con người tự làm lấy hết
theo mẫu mực mình đã hoạch định, mẫu mực đó được trình bày bằng
khung ngũ hành. Vì thế mà nói được ngũ hành tóm thâu toàn thể triết
Việt Nho là vậy.
Do đâu mà thần thoại biểu lộ bản tính con người?
Thần thoại là một trong những yếu tố trường tồn đã xuất hiện cùng với
con người ở bất kỳ nơi đâu: xưa đã vậy mà nay cũng thế, chỉ có hình thức
thay đổi, xưa thì hô phong hoán vũ, độn thổ đằng vân, nay thì Superman
hay Wonderwoman… và bao giờ con người cũng nghe kể cách thích thú,
nhất là trẻ nhỏ nơi thiên năng chưa co rút lại nên cảm thấy thần thoại liên
hệ với mình chặt chẽ hơn là người lớn. Nói bản là nói đến cái gốc cái rễ
cùng cực, nên thường không xuất lộ rõ ràng, nhưng lại là nền tảng. Ta
biết thế vì hễ cái gì trường tồn – ở đâu và bao giờ cũng có: cổ hay kim
cũng vậy thì ta hiểu đó là thuộc bản tính con người.
Đến lúc xem lại kinh điển thì thấy nói đến Đại Ngã, nhưng ít thấy Đại
Ngã được diễn tả cách cụ thể, thành ra Đại Ngã thường chỉ là một từ ngữ
suông không vươn ra để móc nối được với thần thoại. Còn thần thoại thì
thường chỉ đựơc coi là việc của thần của tiên, không dính dáng chi đến
con người, thành ra hai bên vẫn xa cách.
Nay Việt Nho đưa ra thuyết nhân thoại là có ý nối 2 đang lại, tức những
tác động bao la như phân định trời đất, đội đá vá trời… thì quy ngay cho
con người, vì con người đã có mộng như thế tự muôn thưở, nên kết luận
được đó chính là một trong những đức tính căn bản của con người, cho
nên chủ trương nhân thoại không những đã có nền móng vững chắc mà
làm thế còn nâng con người lên ngang hàng thần linh. Nho có nói “chí
thành như thần” nhưng câu đó chưa được giải rộng, nay Việt Nho quảng
diễn bằng thuyết Nhân thoại là để nói rõ lên rằng: Con người chính là Đại
Ngã Tâm Linh nghĩa là nó có cái sống song toàn gồm cả đời sống thân
xác lẫn đời sống tâm linh. Nho dùng chữ “lưỡng thê” chính là thế. Lưỡng
thê nghĩa đen là những vật sống cả dưới nước lẫn trên bờ. Còn nghĩa
bóng là tiểu ngã sống trong cõi hữu hình nhưng lại tàng chứa một Đại
Ngã sống trong cõi vô hình. Tiểu Ngã thì bị tràng buộc trong không gian
thời gian, ở đây và bây giờ với cái xác thân bé nhỏ nặng chỉ chung quanh
100 ký, nhưng Đại Ngã thì vượt không gian thời gian, nói bóng là sống cả
trên đất lẫn dưới nước tức có tầm vóc như vũ trụ. Đấy mới là cốt Đạo lý.
Và vì thế những tổ văn hóa của ta đều sống cả dưới nứơc lẫn trên trời.
Thần Tản Viên xuống thuỷ phủ nhận lãnh sách ước gậy thần rồi lên sống
trên núi. Mẹ Aâu Cơ cũng thấy vừa sống trên núi Phong Châu lại vừa gặp
bố Lạc dưới thuỷ phủ. Tất cả nghe đều thật lạ lùng, cho nên học giả
James Legge bàn đến thuyết Tam tài là thuyết đặt người ngang hàng cùng
Trời với Đất thì cho là điên rồ. Phải điên rồ mới dám đặt con người bé
nhỏ yếu đuối ngang với Trời. Mọi người đều “thấy” như vậy.
Chính vì sự ngược đời đó nên thuyết Tam tài trở nên vật rất họa hiếm.
Hầu hết các nền văn hóa chỉ mới nhận thêm có linh hồn, nhưng linh hồn
cũng bé nhỏ như xác thân, chỉ khác xác thân là nó tinh hơn, nên có thể
gọi đó là một thứ vía. Lấy về đàng tinh thô mà nói thì xác là thô nhất nên
giác quan ta xem nghe sờ mó được. Bên trên xác chỉ có phách. Phách đã
tinh hơn nên chỉ một số người có giác quan thứ 6 mới “nhìn” ra. Bên trên
phách là vía tuy tinh hơn nữa, nhưng cũng vẫn còn bé nhỏ và bị ràng
buộc. Linh hồn xem chừng không cao hơn vía mấy, tất nhiền bị cột trói
trong không gian thời gian. Phải tiến lên nữa mới đến đợt Đại Ngã mà
Nho gọi là thần “âm dương bất trắc vị chi thần” = thần thì đến ngay âm
dương cũng không còn đo lường được nữa, vì nó đã vượt ra khỏi không
gian thời gian và trở nên bao la như vũ trụ. Kinh Dịch đã đặt tên “vũ trụ
chi tâm” là thế.
Phần lớn các nền văn hóa chưa vươn lên được đợt Đại Ngã, vì thế mà có
sự vụ là thần thoại bị coi khinh, hoặc bị hạ thấp xuống bậc sử ký, hay lại
hiểu lối ma thuật tức những việc cao cả thì quy cho thần, cậy thần làm hộ
chứ không dám nghĩ đến rằng mình cũng có khả năng làm được như thần.
Đấy là chỗ nhân thoại giúp con người nhận ra chiều kích bao la như vũ
trụ của mình. Phải đạt đến đó đường tu tiến mới hanh thông, mới là Đại
Đạo, tức cũng là Đạo trung thực tròn đầy vậy.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s