Nghiên cứu Kinh Dịch 1. KINH DỊCH HAY LÀ THUẬT QUYỀN BIẾN

“THIÊN ĐỊA CHI ĐỘNG TRINH PHÙ NHẤT GIẢ DÔ
Nền móng của tòa nhà Việt Nho nằm trong quyển kinh Dịch, và kinh Dịch là quyển sách duy nhất trên thế giới ở chỗ không có chữ. Những chữ về sau chỉ là “hệ từ”, nghĩa là những lời treo vào, treo vào nghĩa là đã có Kinh rồi, lời đến sau chỉ để phụ họa thôi chứ không là thành tố của sách. Các Kinh sách khác được thành nên bởi lời, bỏ lời đi là không còn sách.

Với kinh Dịch thì bỏ lời vẫn còn sách, vì nó nói bằng biểu tượng, bằng thể chế. Thể chế là nội dung của biểu tượng khiến biểu tượng không bị rút ruột. Và đó là chỗ đặc trưng định tính, nghĩa là có như vậy mới chu toàn được sứ mạng cao cả, là duy trì những chân lý nền tảng của cuộc nhân sinh. Thường thì người ta không nhận ra được nét đặc trưng này, vì nền văn minh nào mà chẳng dùng biểu tượng, nhưng chỉ có biểu tượng trong kinh Dịch là làm trọn được câu “Thiên hạ chi động, trinh phù nhất giả dã, chữ hán” hệ từ 1.

“Cái đạo của Động là phải trinh bền với nhất.” Đấy là câu nói khó vô cùng, vì chứa chấp một mâu thuẫn nền tảng, mà nếu không thoát ra được thì sẽ không đạt được cõi sinh sinh hóa hóa, mà chỉ nằm lỳ lại trong bình diện hình tượng, tức trong vòng sinh diệt. Cái khó khăn là ở chỗ vừa phải trinh với nhất vừa phải động. Hễ động là có đa, không có đa làm sao động. Nếu không
có điểm b.c thì làm sao a có thể chuyển sang b. Cho nên nói đến động là nói đến đa, mà đã đa thì làm sao trinh bền với nhất. Đấy là cách nói tiên thiên để có thể phù hợp với mọi biến cố hậu thiên.

Mà hậu thiên thì luôn luôn biến hóa, ngay đến tâm trạng con người chúng ta
cũng chia đại để ra được ba chặng: bái vật, ý hệ, với tâm linh. Bái vật là thời tôn thờ thần thoại, ý hệ lại chối bỏ thần thoại để đi vào khoa học. Làm thế nào để vẫn duy trì cái hay của thần thoại mà lại tiến lên đợt khoa học. Nếu trinh bền tuyệt đối với thần thoại thì đời đời sẽ còn là bái vật tức nô lệ cho dị đoan. Còn nếu phải bỏ dị đoan để nhảy sang lý trí hoàn toàn
thì tự nhốt mình trong ý hệ mà hậu quả là cá nhân chủ nghĩa: chỉ thấy đa mà không thấy nhất, chỉ thấy có mình lẻ loi mà không thấy mối liên hệ ngầm ràng buộc tha nhân tha vật với mình.

Đó là tóm lược mọi khó khăn cho con người ở bất cứ giai đoạn nào, vì con người
được đặt trong quá trình biến đổi. Cho nên cái nhất phải trinh bền không còn hiện ra y hệt nhưng mặc thiên hình vạn trạng, và vì thế con người không thể trinh với, nên đâm đầu vào biết bao mâu thuẫn đủ loại: nào mâu thuẫn giữa truyền thống với tiến bộ, giữa cổ với kim, giữa đông với tây… Tóm lại mọi xung đột trong ý hệ đều phát xuất từ chỗ bất lực thi hành câu trên.

Trong các nền văn hóa nhân loại ghi nhận được tới nay, ta thấy nền văn hóa dịch lý của Việt Nho đã thoát ra khỏi gọng kìm đó, và vươn lên đợt ba là tâm linh. Hãy chứng minh câu trên xuyên qua các biểu tượng của nó. Lúc ấy ta sẽ thấy sự kiện rất dễ nhận ra, mặc dầu chưa được ai nhận ra đó là biểu tượng của mọi nền văn minh đều cố định, cùng lắm thì thay đổi bằng thế đặt ngược hoặc xuôi. Ngược lại biểu hiệu kinh Dịch thì thiên biến vạn hóa, đến nỗi nếu muốn lên sổ thì không cùng, chỉ mới kể ra mấy loại chính cũng chưa hết,
huống chi mấy loại chính còn gồm biết bao loại tuỳ. Tuy nhiên ta đành phải tạm bằng lòng với chút ít đó.

BIỂU TƯỢNG CHÍNH
Hãy khởi đầu bằng loại biểu tượng nền móng là âm dương: hai chữ này có nghĩa rộng mênh mông như trời đất, ngày đêm, sáng tối, trên dưới, trong ngoài v.v… nghĩa là không chịu hạn cục vào vật nào nên không là vật độc khối im lìm mà là động đích nên lưỡng diện. Tính chất lưỡng diện này không là tuỳ phụ nhưng chính là cơ cấu, là đạo, nên nói “nhất âm nhất dương chi vị đạo”. Vậy dương biểu thị bằng nét liền __ cũng gọi là cơ số lẻ; âm bằng nét đứt –cũng gọi là ngẫu: số chẵn. Rồi chồng lên nhau nữa làm ra quẻ đơn có ba gạch gọi là quẻ đơn, để chỉ sự vật nào cũng tham dự vào tam tài: thiên, địa, nhơn. Rồi hai quẻ lại
chồng lên nhau nữa làm thành ra 6 nét. Có tất cả 64 quẻ để biểu thị những sự vật có hình tích đã tham dự vào các biến cố cũng như là tình trạng. Triết lý nằm trong mối liên hệ giữa quẻ ngoài (hạ) và quẻ trong (thượng) hay là ở chỗ “hợp ngoại nội chi đạo dã”.

Bởi vậy 64 quẻ đó được coi như bao gồm mọi biến cố mọi sự vật có thể xẩy ra, có thể xuất hiện trên bình diện hiện tượng. Chính sự giao thoa hai quẻ thượng hạ nói lên chữ tương.
“Sông Tương nước chảy hai dòng”
dòng tình với dòng lý
dòng lý trí với dòng duệ trí
dòng tâm linh với dòng khí chất v.v…

Tức là một tính chất mà khoa học hiện đại mới khám phá ra và gọi là lưỡng diện tính. Đấy là tinh hoa của kinh Dịch. Về sau các Nho gia thêm vào một số biểu tượng biến thể để nói lên sự biến hóa ngay trong biểu tượng. Chúng ta cũng nên biết tới vì nó vừa có liên hệ mật thiết với biểu tượng căn bản là âm dương, đồng thời triển khai sự phong phú vô biên của biểu tượng chính. Ta thử theo dõi sự tiến triển củahai nét âm dương.

(còn nữa)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s