Việt Nho 2: Ý nghĩa Việt Nho

1. Vấn đề nền tảng

Đây là hai ý nghĩa trong cặp danh từ Việt nho một là nho siêu Việt, hai là nho của người Lạc Việt. Trong hay ý đó thì quan trọng nhất là nghĩa đầu với ý niệm là nho đã vượt qua bái vật và ý hệ để đạt tâm linh. Nền nho này được trình bày trong bộ ngũ luận (đã ra được ba quyển là Nhân Bản, Chữ Thời, Tâm Tư với một dẫn nhập là Cửa Khổng, hai luận kia là  Nhân Luân, Sinh Hóa sẽ viết sau).

Còn nho xét như là của người Lạc Việt mới được trình bày trong những quyển: Việt Lý tố nguyên, Triết lý Cái Đình và lâm râm trong Dịch Kinh linh thể, Vấn đề quốc học cũng như trong quyển Cơ Cấu Việt nho này và sẽ nối tiếp bằng ba quyển khác là Tình hoa ngũ điển, Loa thành đồ thuyết, Vấn đề nguồn gốc văn hóa Việt Nam. Cũng cần phải thêm ngay rằng trong những tập này thì phần soi sáng cho ý nghĩa siêu việt vẫn còn chiếm phần lớn hơn rất nhiều.

Ai đọc tòan bộ thì dễ nhận ra đó chỉ là nho siêu việt, còn nho đó có là của Lạc Việt chăng thì chỉ chuyện hết sức tùy phụ. Nói chung thì sự đón nhận rất đáng khích lệ: có khi với cả niềm tưng bừng nồng nhiệt tri ân như đựơc dẫn vào một thế giới mới mẻ kỳ lạ nhưng lại thiết thực “lay tỉnh khỏi giấc ngủ triền miền”. Nói riêng thì có một số người bỡ ngỡ cho là kỳ lạ khác với ý nghĩa nho được truyền tụng xưa nay; đó là về ý thứ nhất. Còn về ý thứ hai thì một số đông không đồng ý, một hai người cho là vội vàng, hoặc quá mung lung thiếu nền tảng hay là bất tiện gây tranh tụng với Tàu v.v… Vì một số thắc mắc trên, cũng như để tóm lại trọng một bản nhất lãm cho dễ nhìn chúng tôi xin kết sách với bài ý nghĩa Việt nho này. Về ý thứ nhất thì tuy có mới lạ về phần tích cực, nhưng phần tiêu cực thì chẳng có chi mới cả.

Bởi vì từ lâu lắm nhiều học giả đã nhận thấy sự bẻ quặt, hiểu sai nho giáo. Đó là điểu được nói đến nhiều nhất do những Thanh nho như: Khang Hữu Vi, Đàm Tự Đồng, Cố Viên Võ… thế nhưng đến lúc trình bày phần tích cực của nho nguyên thủy thì lại bị vướng mắc vì những bác học kềnh cơi với đủ loại tiểu tiết, thành ra chưa một ai đạt nho siêu việt. Vì thế chúng tôi phải mở một lối khác xuyên qua huyền sử. Vì huyền sử là một ngành còn quá mới mẻ nên nhiều người cho quyển Việt Lý là thiếu nền. Sự thực thì nó không còn dặt nền trên lịch sử nữa như y cứ trên huyền thoại. Nói khác nó có nền nhưng là nền tâm linh.

Đó là yếu tố xa lạ đối với thế hệ vừa rồi, một thế hệ đã được đào luyện trong bầu khí duy niệm của Tây Aâu, nên coi mọi thần thoại như không có nền. Nghĩ tưởng thế có một phần đúng là vì tâm thức con người luôn luôn tiến từ bái vật qua ý hệ đến tâm linh, thế mà thần thoại vận hành trong tâm trạng bái vật, vì thế sự thải bỏ thần thoại là việc làm đúng theo đà tiến bộ của con người: không đạp đổ bái vật làm sao tiến đến giai đọan lý trí để xây dựng khoa học thực nghiệm với nền văn minh cơ khí. Tuy nhiên đó là lối tiến theo cung điệu thái cực là chộn một bỏ một: chọn lý trí bỏ tin tưởng. Trước thì tin thần thoại như là thật, rồi sau lại chối bỏ trọn vẹn như là hoang đường vô nghĩa. Thế nhưng sư thực lại không ở trong hai cực mà phức tập hơn nhiều vì nó theo lối “trong âm có dương” = trong thần thoại có ý nghĩa nên vẫn cần thiết cho tâm hồn: chối đi con người sẽ cảm thấy thiếu một cái gì và dân tộc sẽ thiếu đi mối dây ràng buộc thiêng liêng rồi sẽ đi đến chỗ băng hoại.

Vì thế mà hiện nay ngay chính bên Tây Aâu nhiều người đã đứng dậy kết án tâm trạng duy lý mà họ gọi là duy niệm, khi áp dụng vào sử thì đó là óc duy sử chỉ biết chấp nhận là có những biến cố đã xảy ra trong hiện tượng ngoài ra cho là không còn chi hết. Đấy là một thứ bệnh tinh thần làm cho người mắc phải bị tê liệt một phần hay trọn vẹn cảm giác cao tầng không bắt nổi những làn sóng tế vi nên tưởng rằng ngoài những biến cố có thực không còn chi nữa. Những người đó có đọc cũng không thấy. Chẳng hạn quyển Việt Lý tố nguyên là một triết lý về sử nghĩa là phần sử chưa biết có được 10% vậy mà lại hay được phê phán theo 10% đó. Còn phần chính thì không hề được đả động. Là vì những người đọc đã mắc chứng duy sử: đánh mất trọn vẹn cảm quan đối với chiều sâu của huyền sử. Vì thế cần nhắc lại ít đặc tính của huyền sử.

2. Hai nét đặc trưng của huyền sử

Nếu hỏi tại sao cần đến huyền sử thì câu thưa sẽ là vì duy sử không đủ để bao gồm được tất cả ý nghĩa. Thí dụ trước câu truyện cái bọc Aâu Cơ mà đi hỏi có thực hay chăng là trật đề. Lẽ ra phải hỏi “nó muốn nói lên cái chi đây?” tức là hỏi về ý nghĩa tiềm ẩn trong đó. Và khi hỏi đến ý nghĩa là hỏi đến lý tưởng chưa được thể hiện hẳn vào đâu cả nhưng không vì thế mà không thật, nó thật tuy không thực (vrai mais irréel = hữu thật nhi vô hồ xứ giả) là cốt để nó đựơc kết tinh với hết mọi biến cố trong hết mọi đời.

Thí dụ tiên rồng không có thực nhưng lại có thật như tính chất lưỡng thê sẽ thể hiện bàng bạc trong mọi thể chế của Việt Nam. Đó gọi là khả năng phục hồi khác hẳn với biến cố lịch sử có thực thì không thể nào phục hồi nữa. Người có óc duy sử chỉ biết có biến cố bất khả phục hồi nên không nhìn ra được giá trị nằm trong chỗ phục hồi là vì đã bị đóng khuôn trong tính cách tuyệt đối khách quan của lịch sử. Tuyệt đối vì mỗi biến cố chỉ xảy ra có một lần trong một nơi, không biến cố nào y hệt trong không thời nên không thể có hai biến cố giống hệt nhau.

Còn khách quan là vì nó trặt trờ ra đó ai cũng thấy được. Khi người ta bị chi phối bởi óc duy sử thì chỉ thấy có thế mà không thấy chi khác nữa. Cuối cùng không thấy được cả phần chủ quan trong sử, nên nuôi ảo vọng đạt sử khách quan mà quên rằng mỗi sự kiện hay biến cố tuy có một nhưng lại có cả hàng trăm lối ghi lại khác nhau. Nếu ta gọi đó là ký còn biến cố là sử thì có thể nói tuy sử có một mà kỷ thì cả trăm đường, nghĩa là sử ký cũng đầy tính chất chủ quan do sự chọn lựa khác nhau về khía cạnh của biến cố cũng như về sự ước lượng tầm quan trọng của nó. Người duy sử quá tin vào tính chất khách quan của sử nên không thấy được tính chất chủ quan, cũng như không nhận ra được tính chất phục hồi bao giờ cũng có trong sử ít hay nhiều: ít trong sử mà nhiều trong huyền sử.

Đó là nét khác đầu tiên. Nét khác thứ hai là lịch sử phần nào có tính cách khách quan và tuyệt đối còn huyền sử lại là chủ quan và tương đối nghĩa là nó nằm trong quyền lực con người. Đó là điều cần ghi mỗi khi tự lịch sử bước sang huyền sử hay ít ra khi bước tới giáp ranh huyền sử như khoa tiền sử. Việc làm cần thiết lúc đó là phải cởi bỏ óc độc đoán tín điều vì đây là nơi không có biên cương cả về thời lẫn không gian, vì thế mọi cái đều nhập nhằng trồi sụt, thí dụ Tàu có lúc trọng bên tả thì có phải vì coi đó là hướng đông để làm ăn hay vì họ chịu ảnh hưởng Viêm Việt nhậm tả… Ít ra có hai lối giải nghĩa mà cứ nhất quyết là vì để làm ăn thì là độc đoán. Cần phải trút bỏ lối độc đoán đó thì mới mong bước đợc vào vòng huyền sử, là phạm vi của những u linh bàng bạc không chịu khép mình vào một ý nghĩa duy nhất, là bởi nó không con trong vòng thời không bé nhỏ nhưng thuộc đại thời đại không nên co giãn như “thần vô phương” với trăm lối giải nghĩa có thể, và đó chính là chỗ giải nghĩa các khả năng giáo dục hóa phong phú của huyền sử.

3. Vấn đề giá trị giáo dục trong sử

Vấn đề này gắn liền với vấn đề phục hồi tính của sử. Ai chủ trương sử có phục hồi tính thì coi sử đầy giá trị giáo dục, vì nó cung cấp mẫu mực, nó như cái gương để soi. Sở dĩ người Tàu gọi sử là gương chung (thông giám) người Roma gọi sử là thầy dạy đời sống (historia magistra vitoe) là vì họ tin có phục hồi tính. Sự thực thì không đơn giản nữa có với không như vậy mà nó tế vi và uyển chuyển hơn nhiều.

Ta có thế phân ra ba bậc phục hồi ít, nhiều và rất nhiều. Ít: là trong mọi biến cố bao giờ cũng có ít nhiều yếu tố khả thể phục hồi. Nhiều: là trong điển hình (types) nơi mà các chi tiết hoàn cảnh đã được lý tưởng hóa, nên dễ phục hồi hơn. Rất nhiều: là trong sơ nguyên tượng (Archétypes) hiểu là lý tưởng tiên thiên. Không những thoát thời không mà cả hình hài: Nữ Oa nửa người nửa rằn tức không câu nệ hình thể nào nên là sơ nguyên tượng. Vậy giá trị giáo dục gia tăng lên dần: ít ở lịch sử suông mà rất nhiều ở sơ nguyên tượng đến nỗi đó chính là một thứ minh triết. Chính vì thế mà các sử gia lớn đều ghi nhận sự băng hoại của một dân nước gắn liền với sự băng hoại của huyền thoại nước ấy. Nói khác một dân thiếu huyền thoại là một dân đang đi tới chỗ tiêu trầm “faute de mythes un peuple va à sa perte” (Civ VIII.58).

Chính sự chân nhận này giải nghĩa trào lưu phục hồi huyền thoại bên Tây Aâu hiện đại và cũng vì thế mà gọi huyền sử là minh triết diễn bằng mảnh vụn lịch sử. Thiếu huyền sử là thiếu minh triết, tức là thiếu hướng đi tới thì đấy là lý do làm suy yếu dân nước vì nước mạnh là nhờ vào thống nhất nhân tâm muôn người như một. Muốn được thế thì nên nói ít làm nhiều, cảm nhiều. Vì lời nói ra là nói ra một ý, của một cá nhân riêng lẻ, nên có bao nhiêu người là có bấy nhiêu ý bấy nhiêu lời, cội gốc của chia rẽ. Còn khi đưa ra một biểu hiệu (huyền thoại là một biểu hiệu) thì mọi người sẽ tùy trình độ mà hiểu khác nhau, nhưng khác nhau đến đâu cũng vẫn gặp nhau ở biểu tượng chung, nhờ thế mà có cả đồng cả dị: đồng ở biểu hiệu, dị ở lối hiểu. Đã có đồng có dị là có thống nhất, và không bị ứ trệ như trong duy đồng hay duy dị, nên lặp lại hoài mà vẫn sống động. Đó là điểm dị biệt giữa sử ký và huyền sử cũng như giữa triết học và minh triết vậy.

4. Nền móng vững vàng của huyền sử.

Câu trên không khỏi gây thắc mắc và nhiều người cho đây lại là một câu tự phụ mới nữa. Kỳ thực thì đó là câu thật nhất miễn là người ta đi vào đến tận nguồn gốc. Nếu ai chịu quan sát sâu xa, hay ít nữa đọc những tác gia lớn cỡ Nietzsche, Heidegger, Jung, W.Durant, Toynbee… sẽ nhận ra là tất cả đều đang thất thanh loan báo sự tan rã của nền văn minh cao nhất hiện đại là Aâu Tây: “bằng những bước vội vã nó đang lăn xuống hồ tiêu trầm; là vì nó thiếu mất nền tảng làm mối liên hệ”… một dân mạnh là một đoàn người được cấu kết chặt bằng những mối dây thiêng liêng như ngôn ngữ, kinh điển, huyền sử, dòng tộc, đất đai…

Trong đó đất đai lại là phần kém quan trọng hơn huyền sử, kinh điển. Thiếu những thứ đó thì hồn dân tộc héo hắt đi để cuối cùng chỉ còn là một lũ đông ràng buộc với nhau bằng những liên hệ địa dư, kinh tế, chính trị, luật pháp. Trên nữa không còn gì. Vậy mà với Tây Aâu thì tất hệ thống thần thoại đã bị đạp đổ để dựa vào triết học, nhưng triết học chỉ là những ý hệ chống đối nhau. Nên nay họ lại phải khai quật thần thoại như các khoa nhân văn hiện đang làm, nhưng không đủ vững dạ nữa là vì sự đánhđổ thần thoại cũng là một việc làm đúng với chiều đi lên của tâm thức, một khi óc phê phán đã thức tỉnh thì không thể chấp nhận đựơc thần thoại và lúc đó phải thay thế bằng cái khác.

Nhưng nhiều tôn giáo còn đa mang di sản của pháp môn, phù chú, nên vẫn chưa thỏa mãn con người toàn thể vì con người phải kể tới óc phê bình cũng cần được cho nảy nở hết cỡ, thế mà điều đó ít có trong tôn giáo. Vậy thì chỉ còn một lối duy nhất là huyền sử, vì huyền sử là nền minh triết diễn đạt bằng mảnh vụh của lịch sử. Vì minh triết nên không cản trở bất cứ cơ năng nào phát triển. Bởi thế con người theo minh triết sẽ được thoải mái không buộc tin bất cứ cái chi mình không kiểm soát được cách nọ hoặc các kia. Còn mảnh vụn của lịch sử đem lại cho minh triết một nét cụ thể thâm tình dễ hiểu cho bình dân. Ngày nay người ta nhận ra rằng trong văn hóa có hai yếu tố giàu tính chất dân gian hơn hết là ca nhạc và huyền thoại (chính vì thế mà Hán nho ít chấp nhận huyền thoại, vì họ thuộc quý tộc). Đó là lý do giải nghĩa tại sao huyền thoại lại tỏa ra một sức chèo kéo có sức giúp rất nhiều vào việc thống nhất dân tộc.

Trên thế giới hiện nay đâu đâu cũng đang có sự băng hoại của huyền thoại, nên phân hóa là hiện tượng chung của nhân loại, và hiện đến giờ phút này chưa đâu tìm ra nền tảng thống nhất mới. Nước Việt Nam ta không những nằm trong cái khoáy khổng lồ băng hoại đó mà còn vì cuộc chiến kéo dài quá lâu nên mức băng hoại lại càng trầm trọng. Trong lịch sử dân tộc ta chưa bao giờ tinh thần nước xuống thấp đến cùng tột như vậy. Theo Dịch Kinh thì cùng tắc biến: liệu rồi nước nhà có biến chăng? Đó là dấu hỏi lớn đang đè nặng trên tâm trí biết bao người Việt. Trong khi chờ thời gian đưa lại câu trả lời chúng ta được phép hướng vọng về một hai tia sáng đang ửng lên trong đó phải kể tới sự kiện là nước Việt Nam có huyền sử. Đó là sự kiện hầu như duy nhất, ít nữa trong việc hiện thực một vài nét huyền sử bằng khoa học.

Các nước khác còn đang quằn quại hoặc trong bái vật (vu nghiễn) hoặc trong ý hệ, cũng như nước ta hiện đang đeo đòi chạy theo hai con đường cụt lối đó. Nhưng tiên tổ ta thì đã đạt tâm trạng huyền sử, tức là tâm trạng cao nhất có thể đai với bất cứ đợt văn minh cơ khí nào. Huyền sử đó đã hình thành trong bao ngàn năm trước và để ngấn tích lại nhiều nhất trong 14 truyện đầu quyển Lĩnh Nam trích quái. Tôi dám nói rằng trong hoàn cầu này không tìm đâu ra được những trang huyền sử thâm sâu hơn, trong sạch hơn, hay một cách êm dịu hơn. Thần thoại thì thiếu gì, hay một cách huy hoàng hơn nhiều, nhưng cũng đưa con người đi đến vong thân mạnh hơn nhiều. Thiên 131 Cơ Cấu Việt Nho – Kim Định http://www.vietnamvanhien.net thoại, Địa thoại cũng hay hơn nhiều nhưng đưa đến tôn giáo vu nghiễn hoặc đưa đến tôn thờn khoa học làm ngộp thở con người.

Còn nhân loại đưa đến chỗ phát triển con người nhân chủ cũng như dân chủ thì nói chung là chưa đâu có. Chứng cớ cụ thể là chưa ở đâu mà con người đựơc hưởng một chế độ tài sản tương đối đồng đều cùng với một nền tự do đa diện: tự do suy tư, tự do cảm nghĩ, tự do nói năng… đó là điều mà thế hệ vừa rồi không nhận ra cứ tưởng văn hóa mình không được bằng của dân La Hy, có biết đâu rằng ngay một việc so sánh mình với La Hy đã là một tội nặng mà chính người ngoại quốc còn biết là hỏang (*). Nếu ta nghiên cnứu kỹ hơn sẽ nhận ngay ra rằng La Hy còn nằm trên địa bản hay thiên bản nên cho tới tận nay Tây Aâu cũng mới chỉ có văn minh của chuyên viên (địa bản) hay triết học lý giới với những truyện bên kia mồ, chứ đã đặt được nền tảng cho những truyện ở đây và bây giờ đâu. Thành ra chỉ có duy vật. Ngấy quá thì lại duy tâm đủ kiểu. Nhân bản duy niệm cũng là một thứ duy tâm, nên không thỏa mãn con người, và con người trở thành bơ vơ. Người chẳng tìm ra được người trong con người nữa. Con người chân thực phải có tâm linh.

Nhưng không tìm ra tâm linh nên chạy quẩn. Hán nho đã tước bỏ huyền sử làm con người không được thỏa mãn nên sau phải bù bằng các tôn giáo vu nghiễn, nhưng ở đấy chỉ thể tìm được chất linh thiêng, tức là một trá hình của tâm linh, nên cuối cùng sẽ dẫn con người đến chỗ vong thân. Đấy là lý do tại sao chúng tôi lại đặt nặng huyền sử. (*) Năm 1933 ông Eùmile Tavernier trong một bài diễn văn đọc tại Sài Gòn và Hà Nội đã than phiền về sự người Pháp so sánh liều lĩnh như vậy.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s