Tiến trình sa đọa của Triết Tây

Khởi đầu lịch sử triết học chúng ta thấy ví hai ngành lớn một bên chủ trương vạn vật biến động của Héraclite bên kia là vạn vật im lìm của Empédocle. Một bên là trở thành (devenir) bên này là hữu thể (Être). Ta có thể nói là hai quan niệm này giống triết Đông vì đây có thể hiểu như chữ Thể uyên nguyên của dịch lý nên nói Thể mà chính là vô thể. “Thái cực nhi vô cực: Thái cực mà vô cực”, nên vẫn có nét gấp đôi căn để (giữa hữu và vô) và do đó có biến dịch, nên rất có thể cả hai hiền triết trên chỉ nói về một điều, khác nhau chăng là về chỗ nhấn, còn cả hai (Héraclite và Empédocle) đều quan niệm Être như là động từ uyên nguyên, mà ta có thể dịch là “Tinh Thể” miễn hiểu Thể là Linh Thể, là cái căn cơ huyền linh của thiên nhiên vạn vật, y như nghĩa chữ vật trong Kinh Dịch cùng một nghĩa với đạo biến dịch, nên có nhiều tầng “đạo lý biến động cố viết hào. Hào hữu đẳng cố viết vật” h.t.x nghĩa là chữ vật cũng như Đạo, cũng như Hào nên rất rộng và sẽ biến tán ra nhiều nghĩa phó sản.

Chính vì thế mà về sau Platon đã hiểu Tinh thể (Être) theo nghĩa Eidos là lý giới hay nguyên nhân đệ nhất, tức là một nghĩa đã xa lìa tiềm lực của động tự uyên nguyên để đốc ra một hiện diện trước chúng ta như một vật thể (étant) nên trở thành đối tượng suy tư nghiên cứu mà không còn là động tự uyên nguyên mà ta có thể cảm nghiệm, có thể sống, cho nên đấy là một bước sa đoạ chí tử khiến con người không còn thấy kinh nghiệm Tinh thể như một nét gấp đôi. Nói khác Sein (Être) đã biến ra vật thể (Seiende): từ hữu thể (Sein) đoạ lạc ra vật thể. Từ Être ra étant và từ đấy siêu hình thay vì sống tức thể nghiệm (tâm linh) thì lại chuyên suy luận về những ý niệm vật thể (lý trí) gây nên một thứ hư vô, một sự trống rỗng tinh thần vì thiếu tâm là thiếu linh. Bởi thể triết học chỉ còn xoay quanh những vật thể cá biệt mà không sao tiếp cận được với dòng sống sinh sinh linh lực cộng thông nữa.

Tóm lại lịch sử triết Tây có thể coi như là một cuộc sa đoạ của tinh thần chìm dần xuống vật chất mà biểu hiệu nằm trong sự hiểu sai tiếng Sein (Etre): từ Tinh thể lưu linh doạ lạc ra vật thể ứ đọng, và vì thế đưa đến vật hoá tất cả sự vật nhất là con người (chosifier tout). Con người bị vật hoá trọn vẹn. Trong thực tế điều đó có nghĩa là con người bị giam cầm và tùng phục trọn vẹn 4 nguyên lý thuộc loại đồng nhất, không khác chi sự vật, nghĩa là thiếu hẳn nguyên lý chiều dọc tâm linh, nên quả là vong thân, tức quên đi mất cái phần tinh ba nhất của mình cũng là nét tư riêng độc đáo hơn hết của con người.

Duy nhân cố vượt tình trạng vong thân

Đấy là điều đã được cảm thấy lờ mờ tự thời Phục Hưng nên từ đấy đã có những cố gắng phục hồi quyền làm người. Jean Jacques Rousseau (1772-1778) đã đề trên đầu quyển Confessions “tôi duy nhất cảm thấy tâm hồn tôi, và tôi biết con người tôi không giống như người khác. Nếu tôi không hơn họ thì ít ra tôi khác họ” (Moi seul, je sens mon coeur et je connais les hommes. Je ne suis pas comme aucun de ceux qui existent. Si je ne veux pas mieux, au moins, je suis autre).

Những tư tưởng đề cao cá nhân này sẽ là bó đuốc soi đường cho nền tư tưởng Pháp quốc, và cuộc cách mạng Pháp 1789 đã nêu cao cá nhân là cùng đích tự thân “l’individu était une fin en soi” và Hegel đã ngây ngô đón chào cuộc cách mạng đó bằng câu “thiên đàng sắp được khiêng xuống dưới đất rồi” = Le ciel allait se trouver transporté sur la terre”. Đấy là những tư tưởng cách mạng đã dẫn đạo nền triết học mới nhằm đưa con người ra khỏi cảnh vong thân để dẫn đến chỗ cùng cực hạnh phúc.

Cho tới một buổi sáng kia khi thức dậy thì người ta mới nhận ra trên mặt đất không thấy thiên đàng đâu cả mà chỉ hấy la liệt những trại giam vĩ đại ngay cả trên mảnh đất Âu Châu (vài trăm triệu dân màu không đáng nói) ở đó người ta dùng người thay cho chuột bạch, hoặc thiêu từng ngàn người trong những lò khí hoặc để cho chết cái chết kéo dài bằng sự giam đói được duy trì cả nhiều năm. Rõ rệt là một sự chà đạp con người hơn cả các đời trước. Và truy căn ra thì cũng do triết học nếu không trực tiếp chấp nhận sự giết người như cộng sản thì cũng do thất bại.

Và sự thất bại đó nằm trong hai chữ “duy nhân” (anthropocentrisme) tức là lấy con người hiện thân làm trung điểm. Như thế là làm mất trọn vẹn chiều kích tâm linh là yếu tố đem lại cho con người giá trị và nhân phẩm vì nó liên hệ với vũ trụ. Và như vậy các triết học đời mới tự Descartes tới Hegel vẫn còn để con người tron trạng huống bị vật hoá như xưa. 4.-

Sự phản kháng của hiện sinh

Trước sự thất bại ấy lại nổ lên một trào lưu triết học mới căn cứ trên hai động từ là (Être) và có (Avoir). Hai động từ này được kêu là “động từ trợ giúp” verbes auxiliaires vì nó giúp “chia” mọi động từ khác. Ai đã học tiếng Pháp đều biết thế: nhưng gọi là trợ giúp đã là sa đoạ, lẽ ra phải gọi là nền tảng. Vì đó là hai cột trụ chống dỡ vũ trụ ngôn ngữ: Etre chỉ trỏ tác động lưu nội (Verbe intransitif) thuộc tâm linh, còn Avoir chỉ tác động hướng vào sự vật để chiếm đoạt nên là cái gì hiện tượng bên ngoài mình.

Một ngôn ngữ trung thực cũng phải có nét ngang hiện tượng (Avoir) và nét dọc tâm linh, (Être) và lẽ ra tâm linh phải bao trùm hiện tượng: lẽ ra Etre phải bao trùm Avoir như ta đã nói “mẹ tròn con vuông” nhưng đàng này thì Avoir đã bao trùm Être, nên tất cả các “thời” đều có Avoir, thời dĩ vãng là J’ai été, j’avais été: tương lai thì j’aurais été… thế mà khuynh hướng triết lại đặt nặng trên dĩ vãng vì là triết lý yếu tính, mà yếu tính là cái đã xong rồi, cho nên toàn thể triết đặt trên Avoir, đến nỗi Être cũng bị mang tính chất của Avoir để biến thành étant. “Ego sun qui sum” đoạ ra “ego sun ens summum” tức Thượng Đế bị bản chế hoá. Nói khác linh thể đốc ra bản thể, siêu hình đoạ ra một thứ lý giới mà con người phải có (phải Avoir).

Phải có siêu hình, có đạo, vì nó ở xa, nó không còn ở trong con người đặng làm kỳ trung, nhưng nó đã đoạ ra tha trung của các thứ Avoir để trở lại tha hoá con người và hạ con người xuống hàng sự vật: Chosisme. Đấy là điểm đã đạp mạnh vào trí não của những người gây nên phong trào triết mới gọi là hiện sinh. Hiện sinh dịch bởi chữ Exister là một cách thế có bật ra khỏi = EK-sixter hiểu là bật ra khỏi cái khối lù lù Avoir của sự vật. Con người có biết sống bật ra khỏi khối lù lù im lìm mới trông lấy lại quyền làm người. Hiện sinh nói thế thì rất đúng, nhưng hiềm nỗi là sai. Vì đây không phải là biến dịch có động có tĩnh kiểu Dịch Lý nhưng là động đậy om sòm như người xưa đập nong nia để cứu gấu khỏi ăn trăng, thì các triết học gia mới cũng đánh trống Exister để cứu mặt trăng Être, đưa chúng ta vào giai đoạn hiện sinh để cứu gỡ con người, vì Exister khác Être (ít ra Être đã sa đoạ là yêu tinh) ở chỗ nhận thức ra sự tồn hữu cuả mình như một tác động tinh truyền, như một biến dịch không ngừng nghĩ “un incessant devenir” hầu sống bật ra khỏi lũ động vô thức, để tiến lên con đường nhận thức lại mình.

Tự mình chọn lấy mình. Hễ ý thức được như vậy là con người mới hiện sinh thực sự, nghĩa là mình mới dám là mình, không còn để mình lẫn trong lũ đông. Từ đây chỉ biết có mình “Je ne voudrais ne tenir que de moi même” (Sartre: đã đặt vào miệng Danici trong quyển L’âge de la raison). Hiện sinh thành công đến đâu? Thưa thành công đưa đến một quan niệm bi đát u sầu về cuộc đời, coi con người như một hiện thân của phi lý làm nản chi tất cả “Tất cả mọi người sinh ra không có lý do và kéo dài kiếp sống tình cờ”. (Tout existant mait sans raison, se prolonger par rencontre. La Nausée) và như thế thì hiện sinh cũng thất bại.

Thế là ta nhận ra rằng kiểu này hay kiểu khác triết học đã thất bại trong cả ba đợt. Đợt đầu của Platon, Aristote vì để Tính thể đoạ ra vật thể, nên con người bị vật hoá. Đợt hai của Descartes, Kant, Hegel đã tránh cho con người khỏi vật hoá bằng đưa con người đến tột đỉnh là trở nên Thượng Đế, nhưng đó chỉ là tột đỉnh của lý trí nên dù có là một Thượng Đế nhưng là Thượng Đế vong thân không ơn ích cho con người thực là cá nhân có xương có thịt nên cá nhân vẫn phải hi sinh cho nhà nước, y như những vật bất động một chiều. Đợt ba tránh bất động bằng một cuộc động cỡn: động cuống cuồng hay động phản kháng. Tất cả vẫn chưa thành nhân dịch mà Kinh dịch kêu là “Thành vụ”. Muốn “Thành vụ” thì phải trở về học Dịch vì “Phù! Dịch khai vật thành vụ” = Vì chỉ có Dịch mới khai mở sự vật ra cho thấy có nét gấp đôi gọi là lưỡng nghi. nhờ vậy mà có thể thành vụ và thành nhân.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s