Thân phận con người trong triết lý Ấn Độ

1.- Một lối nhìn mới đặt trên văn hoá Ấn Độ

Bài này nhằm hai mục tiêu: trước hết là làm sáng tỏ ý niệm về con người xuyên qua những lý thuyết của ấn Độ, sau là nhân đó góp phần vào việc nghiên cứu nền triết ấn. Sự góp phần này không nhằm chi tiết văn học hay bác học là điều đã có rất nhiều, nhưng nhằm đóng góp một trong những đường hướng tra cứu có tính chất động đích trong diễn trình hình thành, nó ở tại việc nhận thức sâu xa về sự dị biệt giữa hai nền văn hoá bản thổ Dravidien và ngoại xâm Aryen và dùng chính ngay sự dị biệt đó làm trục nghiên cứu: nghĩa là nhìn qua sự xâm nhập của văn minh Aryen và suy tàn để rồi trở lại của nền văn hoá Dravidien ra sao và cùng với Aryen cấu tạo thành văn minh Ấn Độ hiện nay.

Tình trạng có phần tương tự với nền văn minh Viễn Đông chúng ta trong đó văn minh Hoa tộc đã gặp văn minh Viêm tộc để làm nền Việt Nho, nhưng thế cách khác nhau. Bên Viễn Đông thì Viêm tộc vẫn làm chủ động văn hoá, bên ấn Độ thì chu động lại là Aryen. Đó là một sự kiện lớn lao nay được học giả nhìn nhận và ghi lại, nhưng không được nhận thức đến độ đủ để dùng nó làm trục trình bày.

Sự nhận thức khác với sự nhìn nhận ở chỗ sâu xa hơn nhờ đó đưa lại cho sự tìm kiếm một cái hướng học hỏi làm cho những suy cứu trở thành linh động. Đó là điều còn thiếu trong các sách nghiên cứu về ấn Độ hầu hết khuôn mình lại trong bác học, nghiên cứu, lịch sử mà không sao vươn lên đợt triết lý nhân sinh, nhưng vẫn theo vết xe cũ nhìn ấn Độ như một thực thể văn hoá đơn thuần với nền tảng duy nhất của Aryen, mà không hay biết gì đến văn hoá bản thổ Dravidien. Nền văn hoá này mới được khám phá ra trong những cuộc đào bới ở hai địa điểm Harappa và Mohenjo Daro nằm trong thung lũng sông Indus.

Người ta tìm được ở đấy một nền văn minh có tính cách nông nghiệp và thành thị cao hơn Aryen về văn hoá nhưng kém Aryen về tổ chứ và binh bị nên bị tiêu diệt hoặc nô lệ hoá đến độ để cho nền văn minh Aryen nắm trọn quyền điều lý xã hội. Đó là một bước thụt lùi, bởi vì văn hoá Dravidien cao hờn nhờ có yếu tố phổ biến, đang khi văn hoá Aryen còn mang đậm màu sắc tôn giáo địa phương vì y cứ trên các kinh thánh Veda với rất nhiều thần, hầu hết là thần đực biểu lộ tính chất văn hoá du mục thiên trọng vũ lực nên cũng trọng nam khinh nữ.

Thần nổi hơn hết là Indra và thần linh tửu Soma tức là thứ rượu thánh dùng để cúng thần minh trong các dịp tế lễ. Đấy toàn là những thần dương sau sẽ bị lép vế dần với sự đi lên của văn hoá Dravidien. Nền văn hoá này mang theo nhiều yếu tố triết lý hơn nên sâu sắc hơn văn minh Aryen vì thế tuy thua về mặt quân sự nhưng đã gây một ảnh hưởng quyết liệt trên văn hoá Aryen và đưa nó lên một trình độ cao hơn hẳn ngành Aryen còn ở lại trên Âu Châu. Để nhận ra điều đó chúng ta hãy đặt một cái nhìn toàn diện trên văn hoá Dravidien hầu lên sổ một số nét căn bản.

2.- Những nét chính của nền văn hoá Dravidien

Nét căn bản đầu tiên của văn hoá Dravidien phải nói là nền nhân bản và là nhân bản tâm linh có tầm vóc vũ trụ vì có hồn vũ trụ gọi là Purusha: Prajapati cũng gọi là Braham là chúa tể vũ trụ, vì đã tự hoá thân thành Purusha đại ngã. Đó chính là con người. Vũ trụ ví tự Purusha đã hoá sinh ra vạn vật. Vì con người cá nhân chỉ là cái bóng mờ nhạt nhỏ bé so với Purusha đại ngã nên cứu cánh của con người là phải làm thế nào để trở về với Purusha. Đó là con đường Minh triết, còn phương pháp để đạt Minh triết là Yoga. Yoga là phép dậy cách cho con người kết hợp lại với Purusha nguyên thủy bằng cách tập trung tư tưởng. như vậy thì cũng đúng với nguyên lý của Kinh Dịch là “nguyên thủy phân chung” cùng chung một bầu khí triết lý.

Quan niệm trọn vẹn về người bao giờ cũng là quan niệm trọn vẹn về con người. Tức là dùng ngay con người tiểu ngã để đạt đại ngã. Khác với quan niệm tôn giáo thường nhằm tiêu diệt tiểu ngã, còn đây lại là tu, gọi là tu thân. Chữ tu ở đây có nghĩa là làm phát triển cho đến hết mức có thể cả thân lẫn tâm, và do đó chữ taspa dịch thể là ascèse thì không có nghĩa là khổ tu diệt sinh như bên tôn giáo mà la tu luyện tài bồi vun tưới. Vi thế chữ tapas có nghĩa là tập trung nguồn sinh lực để nó lan toả ra mọi tác động, khiến cho mọi tác  động đạt độ linh thiêng trọn vẹn. Quan niệm như thế chấp nhận tất cả mọi tác động thuộc tiểu ngã cũng như đại ngã, và tất cả đặt trên quan niệm tíân hoá.

Tóm lại đó là quan niệm Nhân Bản toàn diện, vì thế sẽ bị quan niệm thần bản của Aryen tiêu diệt. Nhưng chỉ tiêu diệt lúc đàu bằng võ lực, còn về lâu dài thì quan niệm Nhân bản vì phổ biến hơn nên mạnh hơn và sẽ đi những lối ngầm để chuyển hoá quan niệm thần bản của Aryen. Để nhận chân điều đó chúng ra hầu kể lại một số điểm trái ngược với văn hoá Aryen nên bị Aryen tiêu diệt đi, nhưng rồi lại có cuộc chinh phục trở lại dần dần.

3.- Quá triều tiêu diệt nền văn hoá Dravidien

Đây chỉ cố đặt nổi lên một ít nét xung đột, mà không có ý đặt mốc giới lịch sử.

1) Trước hết nếu là nhân bản thì con người có túc lý tự nội, khỏi y cứ vào tha vật, và do đó bất cứ ai hễ đã là người thì đều có quyền lợi như nhau, nên không có đẳng cấp mà chỉ có tôn ti. Tôn ti chính ra chỉ là một thứ phân công có tính cách xã hội bì phu, không can hệ chi tới tư cách làm người, tuy có nhiều lạm dụng lấn chân bằng chức tước, bằng quyền quí…. nhưng đó vẫn là lạm dụng, chứ không như đẳng cấp được thừa nhận. Ngược lại với thần bản thì từ nền móng con người không có túc lý tự nội nên phải qui chiếu vào thần và tùy nơi phát xuất mà có địa vị cao thấp: nếu phát xuất bởi miệng Brahma thì là bậc cao nhất là tằng lữ, bởi tay thì là đẳng cấp nhì quân nhân, bởi bụng thì là đẳng cấp ba: thương gia, bởi chân thì là đẳng cấp bốn: công, nông. Còn nếu không bởi thần dù chỉ là chân thì bị kể là vô loại, vô giá trị như thí dụ tất cả dân Dravidien, nên chỉ là Paria không có quyền tham dự sẽ bị phạt một cách kinh khủng thí dụ những người vô loại dám nghe trộm thánh kinh Ve da thì bị đổ chì sôi vào tai.

2) Quan niệm thần bản kéo theo quan niệm cứu độ ngược với quan niệm tiến hoá của Dravidien. Tiến hoá bao hàm hai điểm một là tự lực tự cường hai là làm phát triển trọn vẹn con người cả xác thân lẫn tinh thần; còn quan niệm cứu độ đặt nặng trên hồn linh mà khinh khi thân xác và vì thế ít chăm lo tới đời sống vật chất, hoặc cải thiện những mối nhân luân. Vì thế mà có những sự bất công khủng khiếp vẫn đi đôi với những triết lý rất mực cao siêu y như hai đường thẳng chạy hoài hủy mà không bao giờ gặp nhau. Triết lý siêu hình ít tác động vào đời sống dại chúng . Vì quan niệm tôn hồn hạ xác có rất nhiều lối tu luyện khắc khổ kỳ lạ. Ấn Độ vì thế có thể coi là quê hương của lối tu khổ hạnh đẩy cho đến cùng tột. Phần nào Platon, Kant, Hegel bên Tây Phương vươn mình lên bên trên những bất công xã hội tầy trời. Đó tức là một hình thái nhị nguyên: triết học đứng ngoài đời sống.

3) Tư tế: Có thể coi như hệ quả của sự coi khinh thân xác, nên chú ý được di chuyển sang bên nghi lễ. Các sãi Brahmana lập luận rằng khi Prajapati đã trút hết hơi sức vào việc tạo dựng lên Purusha hì trở nên như xác chết, mà Prajapati chết thì vũ trụ sẽ rối loạn rồi tan vỡ. Vậy cần phải làm cho Prajapati phục sinh, nhưng Prajapati chỉ có thể làm phục sinh bằng các cuộc tế tự. Vì thế tế tự trở thành rất cần thiết cho sự tồn tại của vũ trụ. Đã nói tế tự là nói đến kinh sách và lễ nghi. Do đó tế tự nhằm điều lý vũ trụ bằng danh và sắc. Dó là hai cột trụ cho việc tư tế. Danh sẽ là những lời thần chú, những kinh kệ, lời hát. Còn sắc là các nghi thức phụng sự. Theo đó thì danh sắc không còn là tiêu biểu, nhưng là những thành tố cấu tạo nên vạn vật, vì thế mà tăng lữ Brahamana bởi nắm giữ được bí thuật của danh và sắc nên cũng nắm được then chốt vũ trụ và cả xã hội. Xã hội được phân chia thành 4 giai cấp hì Brahama đứng hàng đầu vì phát xuất từ lò danh (vac) là miệng Brahama.

Hai điểm này sẽ đưa đến những lễ nghi tế tự rất phức tạp vượt sức học của thường dân nên lâu dần nó không còn là tế lễ tư riêng nằm trong tay các gia trưởng như trong văn hoá Dravidien trước kia, nhưng chuyển sang tay tăng lữ và họ nắm độc quyền nên có thể đòi một phí khoản tuỳ sở thích gọi là Darshima. Đó là quan niệm ngược hẳn với phép tâm tư (Yoga) của Dravidien, theo đó mỗi người phải tự thực hiện lấy Yoga chứ không thuê khoán ai được. Yoga nhằm vào bản chất hay linh hồn atman (anima). Vì thế khi văn hoá Dravidien trỗi dậy thì nảy sinh ra một trận tuyến giữa danh sắc của tăng lữ một bên và tâm linh của triết gia bên kia, và thân phận con người gắn liền vào sự thăng trầm của trận tuyến này như sẽ nói sau.

4) Đàn bà: Có thể đoán rằng trong nền văn minh nông nghiệp Dravidien lúc sơ khởi đàn bà đóng một vai trò quan trọng tương tự với đàn bà trong Việt Nho vì người ta nhận thấy số nữ thần thêm lên theo đã ảnh hưởng lớn mạnh của văn hoá Dravidien. Đấy là điểm đi ngược hẳn với văn minh du mục chuyên về sức mạnh đề cao đàn ông, hạ đàn bà xuống rất thấp, đến độ biến đàn bà thành sản vật của đàn ông. Quan niệm này không đâu được biểu lộ cách thái thậm bằng tục thiêu sống các bà goá (sutee) vì các bà bị coi là của chồng, nên khi chồng chết các bà cũng phải lên giàn hoả để chết theo chồng. Về gốc tích văn học thuộc tục lệ này một hai nhà bác học còn do dự nhưng chúng ta có thể dùng lý luận ngoại vi để chứng minh nguồn gốc Aryen của nó.

Trước hết vì chỉ thấy tục đó thi hành trong các miền chịu ảnh hưởng Aryen mà thôi. Và hầu chắc những người mang trách nhiệm về tục này là tăng nữ brahmana. Chiếu theo kinh Veda thì không có lời truyền mà còn cho phép người goá được khỏi bị thiêu sống nếu khi đã nằm trên đóng củi mà có người đàn ông nào đến nắm tay kéo đi thì được phép theo để nên vợ chồng. Nhưng trường hợp này ít có xảy ra vì họ bị dư luận khinh bỉ hết sức.

Sở dĩ có như vậy vì nếu người goá chết đi thì gia nghiệp đương nhiên thuộc về giai cấp brahmana, thế cho nên giai cấp này đã cố huy động rất nhiều lý lẽ để tô điểm cho sự chết theo chồng bằng những đức tính rất cao cả. Bởi đó tục lệ này được duy trì mãi cho tới năm 195 thì phó vương mới ra lệnh bãi bỏ. Những người phản đối lệnh đó hơn hết là giai cấp brahmana (sách lịch sử tình ái). Do đó ta kết luận tục thiêu đàn bà goá do văn minh Veda. Trở lên là phác hoạ lại mấy nét chính của hai quan niệm khác nhau về con người, chúng ta cần phân ra để làm dày chỉ đường trong công việc đi vào rừng cổ học Â1n Độ. Lịch sử của văn hoá Ấn Độ chính là lịch sử giao tranh của hai quan niệm trên. Chúng ta hãy phác hoạ qua lại những cuộc thăng trầm.

4.- Quá trình chuyển hoá của Aryen

Ta có thể căn cứ ngay trên tiếng Veda của họ cho dễ nhận chân hơn. Trên kia đã nói tới Vedanta đứng ra chống đối lại óc tư tế. Vậy Vedanta là gì? Thưa Vedanta vừa có nghĩa là tận cùng của kinh Veda, nhưng đồng thời lại chống đối Veda, câu truyện có thể chia thành 4 giai đoạn là Veda, Upanisad, Phật và Vedanta.

1) Veda là giai đoạn đầu tiên với óc Aryen hầu trọn ở ba kinh đầu là.

– Rigveda = kinh sách – Yajurda veda = những lời thần chú – Sâmaveda = thánh ca

Đến veda thứ 4 gọi là Athava veda thì ta thấy ảnh hưởng của Dravidien dưới hình thức ma thuật với rất nhiều niềm tin tưởng tron dân gian. Nói đến dân gian là nói đến Dravidien tức là kinh Atharvaveda khởi đầu thâu hoá khối văn minh Davidien và đó là giai đoạn đầu tiên trong quá trình chuyển hoá này. Giai đoạn thứ hai có thể gọi là Upanisads một bên, và brahmana bên kia. Brahmana vừa có nghĩa là tăng lữ của thần Brahmana vừa có nghĩa là khoa thần học căn cứ trên các kính veda, nhằm giảng nghĩa các kinh sách và bàn về các nghi lễ… hoàn toàn có tính cách tôn giáo, nên một mình nó không đủ gọi là giai đoạn hai, nên gọi giai đoạn hai là Upanisads.

Upanisads là một loại sách suy tư có tính cách triết lý nên đi sát lại gần nền Minh triết truyền thống của Dravidien, vì tinh hoa của các Upanisads nằm trong câu “chính mày là cái ấy” “Tat tvam asi” nghĩa là mày (atman) cùng với Đạo thể (cái ấy hay là Brahma) là một và việc cứu rỗi nằm trong sự tìm hiểu ra điều đó, chứ không phải tìm trong nghi lễ kinh kệ chi cả. Rõ ràng là con đường chống đối tăng lữ Brahmana. Nhưng sự chống đối này rất nguy hiểm vì tăng lữ có quá nhiều quyền hành thế lực, vì vậy mà sự chống đối phải đi theo lối rỉ tai gọi là tâm truyền và ta có thể gọi là tâm truyền (Aranyaka) nghĩa là những sách chỉ truyền cho có ở trên rừng tức nơi vắng vẻ xa xã hội loài người. Chữ rừng không cần hiểu là rừng nhưng là kín nhiệm.

Vì thế Upanisads cũng thường được bao bọc bằng những nghi lệ huyền ảo, nên Upanisads cũng gọi là áo nghĩa thư, mục đích của những bí mật đó là cốt tránh sự đàn áp của tăng lữ. Nhờ chiến lược bảo mật đó mà Upanisads đã làm nổ lên một mùa hoa nở của sự tìm tòi lao lung, mùa hoa tinh thần xuất hiện vào lối từ thế kỷ thứ 8 đến 4 tức là thời Tục như đã nói tới trong Triết lý giáo dục. Thời kỳ này kết tinh vào các phái triết lý gọi là darshana có nghĩa là quan điểm. Có 6 darshana và mỗi darshana nhìn đời theo một quan điểm riêng. Chính vì thế mà tuy khác nhau nhưng các ý hệ của triết học Tây Âu ? .

Trong các darshana ta có thể chú ý tới Samkhya vì nó có Tứ diệu đề dẫn tới giai đoạn ba là phật giáo. Phật giáo: có thể nói là đỉnh cao nhất của các Upanisads, nó chính là tinh thần Upanisads đã tiến triển nhiều đến độ không còn thèm giấu giếm nữa và đã dám nói toạc ra tất cả sự thực phũ phàng vào mặt tăng lữ Brahmana. Chúng ta biết tiếng Om là một tiếng rất thành trong các việc tế tự (có lẽ cùng một gốc với tiếng Amen) các tăng lữ thường vừa đi kiệu vừa hát tiếng Om. Thế mà Phật tổ đã không ngần ngại vì họ với đoàn chó vừa đi vừa sủa om, om, om, đòi ăn. Chính vì óc can đảm nói thẳng sự thực như thế mà Phật giáo bị đẩy ra khỏi đất Ấn Độ đã nắm trọn vẹn dưới phủ việt của Brahmana. Vedanta: Tuy Phật giáo bị đuổi đi nhưng tinh thần Upanisads sẽ còn lại trong đất Ấn Độ dưới hình thức ôn hoà nhằm thống nhất cả tế tự lẫn triết lý gọi chung là Vedanta, chẳng hạn kinh thần ca (BravagadGita) vừa chấp nhận tế lễ như Veda Aryen, vừa chấp nhận Yoga như Dravidien.

Và đó là nền tảng của Ấn Độ giáo, một nền triết lý đầy mâu thuẫn trong triết lý cũng như ngoài xã hội, khiến cho học giả rất ngạc nhiên ở những giai đoạn đầu. Đến nay thì không còn thể nói la bên nào tiêu diệt bên nào nữa, nhưng đã trở nên một cuộc giao thoa giữa hai nền văn hoá, và nhờ đó tôn giáo Veda đã có thể đóng góp vào việc tạo ra được một nền triết lý tương đối thống nhất và kiến thiết nên những đỉnh siêu hình vừa cao vừa được mọi người tận tâm suy phục, vì thế mà không có những cuộc sụp đổ như bên triết học Tây phương trong đó các đợt sau xây trên đống vụn của các đợt kiến trúc trước. Tại sao cũng là tinh thần Aryen mà phần còn lại bên Âu luôn luôn đỏ vỡ còn phần trồng sang đất Ấn Độ lại vươn lên được những đỉnh cao chót vót thì rõ ràng là nhờ văn hoá Dravidien. Điều này cứ lấy đại cương mà bàn thì không ai có thể chối cãi, có chăng chỉ là trong những tiểu tiết mà thôi.

Nhưng ảnh hưởng Dravidien cũng chỉ đạt có đến đó và không bao giờ lấy lại được phong độ xưa là vượt ý niệm cứu độ để đạt trở lại ý niệm tiến hoá. Vì để đạt ý niệm tiến hoá thì phải chú trọng đến cái hồn lẫn xác, thế gian lẫn siêu gian. Vậy mà sự chống đối Veda của các Upanisads đã rơi vào chỗ hi sinh thế gian như giáo sư Zimmer bình luận: “trong khi hạ giá được các thần Veda họ hạ giá luôn cả thế gian để tự dấy qui trọn vẹn vào nội tâm” (les philosophies de I’Inde.p.281) và do đó để mặc đời trong tay thao túng của tăng lữ, nên có thể nói nền nhân bản chỉ còn nằm rên xiết dưới xiềng xích bất công của đẳng cấp và tục thiêu sống đàn bà goá vẫn được tiếp tục thi hành trong hơn hai ngàn năm mà đã không có một cuộc giải phóng nào.

Thời Alexandre (356-323) xâm nhập thì cũng chỉ có chút ảnh hưởng về nghệ thuật Hi Lạp đem đến cho Phật giáo khuôn mặt Apollon đã từ xứ Gandharsa lan toả sang tận Viễn Đông, nhưng đó cũng chỉ là nghệ thuật suông chứ không làm gợn lên được luồng sóng nhân sinh nào cả như đã xẩy ra bên nền văn hoá Việt Nho. Khác nhau như vậy là tại sự thâu hoá văn minh Dravidien đã không do người Dravidien hiện thực, nhưng là do người Aryen, vì thế dù chuyển hoá theo Dravidien vẫn còn mang nặng tính chất trưởng giả quí tộc, nên không biết lo cho toàn dân cũng như không chú ý đến đem triết lý thấm nhập vào  đời sống và do đó triết có vươn lên cao mấy đi nữa thì cũng bỏ thây kệ xã hội với những bất công trầm trọng, ngay từ trong bản chất. Khác với bên Viễn Đông tuy Hoa tộc nắm chính quyền cai trị, nhưng Viêm tộc vẫn tham dự vào đời sống văn hoá và nắm phần then chốt.

Do lẽ đó mà đã hiện thực được chữ “giao chỉ” nghĩa là khi triết lý thành công thì cũng kéo theo sự san phẳng bất công xã hội (ấy là nói về thể chế và nguyên lý triết chứ không nói về hiện thực). Xét theo chiều hướng đó thì chỉ có nước Việt Nam xứng đáng gọi là Giao chỉ hơn đâu hết: tức là nét trời (Chỉ thiên hay là triết) thấm nhập vào đời sống xã hội (chỉ địa hay là bình sản…) chỉ như những nền siêu hình cao ngất. Ấn Độ xét về mặt nhân sinh vẫn còn đầy đủ những mơ mộng hay ít nhất không hợp cho phong thổ nước nhà .

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s