Bàn về Tự DO.

Tự Do

1.- Tự do hàng ngang

Có hai thứ tự do một nội một ngoại. Tự do ngoại cũng gọi là tự do chính trị nó ở tại không bị thẳng thúc áp đảo tự bên ngoài do tha nhân như xã hội hay gia đình (libertas coertionis). Tự do nội cũng gọi là tự do triết lý, hay tâm lý đặt đối diện với định mệnh. Khi ta không bị tha nhân thằng thúc ta có thể muốn làm chi tùy sở thích thì gọi là tự do, nhưng có thực tự do chăng, hay chỉ là tự do bên ngoài còn trong thực chất thì bị điều động do một định mệnh khắt khe không sao thoát ra được, nhưng vì không ý thức được nên thường cho là mình tự do, mà kỳ thực không tự do?

Đấy là những câu hỏi mà chúng ta sẽ lần lượt tìm giải đáp. Vấn đề tự do đã được đề ra và bàn cãi sôi động trong triết học Tây Phương qua hàng bao thế kỷ không những bằng tranh luận nhưng còn bằng đấu tranh đẫm máu và cho tới gần đây vẫn chưa tìm ra được câu trả lời. Sự thất bại nằm ở chỗ các triết học đó không phân biệt ra được hai bình diện ngang và dọc, nên đã không tìm ra giải pháp ổn thoả. Đến khi ghé tìm bên triết Đông thì lại hiểu lầm vì đã dùng phạm trù hàng ngang nên nhiều học giả đi tới kết luận là người Đông Phương không có ý niệm về Tự do nhưng hầu hết theo thuyết định mệnh. Chính vì đó mà Đông Phương bị ứ trệ trong chậm tiến…

Có thực Đông Phương thiếu ý niệm tự do hay ngược lại vấn đề tự do không còn sôi động chính vì đã giải quyết phần nào ổn thoả? Đáp câu hỏi đầu ta không ngần ngại thưa là không phải thế, vì có hay không chỉ là phạm trù nhị nguyên, hàng ngang còn triết Đông nhất là phần Việt Nho thì “có như không, không mà lại có” như sẽ bàn dài sau trong phần định mệnh. ở đây chỉ nói đến phần tự do, và chỉ cần ghi nhận rằng: triết Nho hầu không nói gì đến tự do chính bởi phần nào đã tìm cho vấn đề một giải pháp ổn thoả. Được như thế là vì đã theo một chiều hướng khác với triết Tây. Có thể nói triết Tây tìm tự do theo hàng ngang nghĩa là tự do đối với tha nhân tha vật. Còn triết Đông lại tìm tự do hàng dọc nghĩa là tìm ngay nơi mình.

Và dầu trước hết là đưa ngay ra một quan niệm về con người rất tự do: thí dụ định nghĩa người như một ông vua tức Nhân hoàng đối với Địa hoàng và Thiên hoàng. Đó là hình ảnh ông Bàn Cổ to lớn hơn vô cùng quan niệm về con người của triết học duy niệm. Vì Bàn Cổ có tham dự vào việc sáng tạo vũ trụ, phần nào giống với Đại Nhân Purusha bên đất Ấn. Cả hai đều khác với vũ trụ của Hi Lạp, trong đó tất cả đều là công việc của thần minh chứ con người không có tham dự gì vào việc tạo thành chi cả. Công việc vĩ đại hơn hết trong nền nhân bản La Hi mà con người có thể làm được là việc ăn cắp tí lửa do Prométhée thực hiện. Ăn cắp tí lửa đã thấm tháp gì với việc sắp đặt vũ trụ của Bàn Cổ, thế nhưng với quan niệm Tây Âu thì đã to lớn lắm, và do lẽ đó trong thời Phục Hưng Promethee được tung hô ca ngợi như là thần linh vì đã có công thắp ngọn đèn tiến hoá sửa soạn cho sự bùng nổ của cuộc cách mạng Pháp 1780.

Cuộc cách mạng này được nhiều sử gia, triết gia đã chào mừng như một bình minh của sự trưởng thành con người, trong đó con người khởi đầu đòi quyền bất khả sang nhượng về sự định đoạt cho số kiếp của mình. Thế hệ đàn anh chúng ta vì nằm trong thế bị đô hộ nên cũng coi cuộc cách mạng Pháp như là biến cố độc nhất trong lịch sử. Thực ra thì một trăm năm trước cuộc cách mạng Pháp tức 1670 bản nhân quyền của Anh đã ra đời rồi và năm 1787 có cuộc cách mạch Mỹ, nó đã sửa soạn gần cho cuộc cách mạng của Pháp không đi tiên khởi và cũng như các cuộc cách mạng kia đều không gây ảnh hưởng lớn cho con người xét là con người mà không là người da trắng.

Lý do sâu xa là vì tất cả các quyền lợi và tự do mà ba bản văn trên đòi đều nằm trọn vẹn trong bảng ngang, nên sự tự do đó đều được chinh phục trên sự bóc lột và tiêu diệt các dân màu. Nói khác các dân màu đã bị tước đoạt không những tự do mà cả đến mạng sống ngay chính trong quãng thời gian ra đời của những bản nhân quyền và những khẩu hiệu tuyên dương tự do. Tự do đó tôi gọi là hàng ngang, vì hễ người này, dân này đòi phần hơn thì người kia, dân kia phải chịu phần kém. Chỉ có thế có sự tự do đích thực là khi tìm theo chiều dọc như kiểu Đông Phương. Đông phương đã từ lâu đi vào con đường tự do hàng dọc này đến nỗi có thể nói chính triết Đông đã góp phần lớn nhất vào việc làm cho cách mạng Pháp bùng nổ (xem Cửa Khổng hai chương cuối). Tuy nhiên mới chỉ giúp được có bước đầu, thì các triết học gia đã ngừng lại không kịp khám phá ra chiều dọc tâm linh vì thế mà cuộc cách mạng Pháp đã giũ bỏ được các gông cùm thuộc loại bái vật, chứ chưa thoát gọng kìm ý hệ nên chưa đạt quan niệm chân thực của tự do

Lịch sử Âu Châu cho tới tận nay vẫn còn đong đưa giữa hai thái cực một là tự do quá trớn buông thả thiếu hẳn chủ đạo, đến nỗi không biết phân biệt giữa tự do cá nhân với tự do của đoàn thể. Cái sau này bị hạn chế bởi những luật lệ thiết yếu cho sự tồn tại của xã hội. Nhưng người ta đã không hiểu nên để cho tự do cá nhân lấn cả sang những phạm vi rất cần thiết cho sự trường tồn của nó như hiện nay những Hippi là đại diện dễ nhận hơn hết. Họ chối bỏ mọi luật lệ, mọi ràng buộc thói tục, mà không ý thức rằng những cái đó cần cho cuộc sống chung mà không ngăn cản việc đi tìm tự do. Chính vì thế họ không bao giờ thiết lập được tự do như ý vì thường đã gây ra phản động bằng độc tài đi tới chà đạp lên cả tự do cá nhân như phát xít đã làm xưa và cộng sản đang làm hiện nay. Đó cũng chỉ là sự phản động lại những chủ trương tự do thái quá cho phép kẻ mạnh bóc lột người yếu… Và như thế chỉ có đong đưa giữa hai thái quá: một bên là tự do cá nhân đến cùng tột, bên kia là độc tài đến chỗ chen lấn vào tận lương tâm tư nhân, gây nên một sự bất ổn trong tâm hồn. Lý do là tại triết học đã tự giam mình trong phạm vi lý trí hạn cục hàng ngang: quan niệm tự do báo chí, tự do suy tư chống đối kẻ khác, rồi chống đối nhau giữa cá nhân và xã hội mà không sao đưa ra được một quan niệm tự do tích cực vươn lên khỏi hai hạn từ cá nhân và xã hội để giàn hoà, hầu giúp nhau tiến trên đường dẫn tới tự do chân thực nó hệ tại biết vươn lên đợt tâm linh để nhận ra những tần số cao hơn, rộng hơn với những khả năng vô biên như quan niệm Đông Phương.

2.- Tự do hàng dọc

Ta hãy ví đợt một với bình diện giác quan, trong đó phạm vi rất hẹp vì cũng là một lô mà trên cùng chỉ là một còn ở đây chia ra đến 32. Vì thế tự do ở đợt này thường chỉ là thoả mãn những nhu cầu cá nhân: ăn, uống, tình dục… nhưng lên đến đợt 3 và 4 thì mở rộng và được quan niệm như sự thoát ra khỏi yêu sách của cá nhân để hành động theo những lý lẽ rộng hơn, thí dụ thuộc gia đình hay quốc gia, nhân loại. Rồi khi lên nữa đến đợt 5 thì là vượt tất cả biên cương nhỏ bé của cả nhân loại để bao hàm tất cả vạn vật trong một cái nhìn nhất thể, nên không còn gì ngáng trở sự tự do. Nên tự do tối hậu đó được biểu thị bằng bảng trắng trên cùng: bao nhiêu những giới hạn ở đợt một đều biến mất khi lên đến đợt trên cùng để mình với vũ trụ thông hội trong một tiết nhịp sống động đến nỗi mình không còn cảm thấy bị chống đối ràng buộc, hay hãn ngữ bởi cái chi nữa, nhưng tất cả cùng hoà hợp với mình. Trạng thái đó gọi là thái hoà và đấy mới là tự do chân thực, tự do xứng danh đợt Minh triết nên tuy nói là hàng dọc mà thực ra là bao gồm cả hàng ngang: không những nó ổn thoả với cả Thiên lẫn Địa mà cả Nhơn nữa hay nói theo tiếng ngày nay là thích ứng với thế giới bao quanh sinh lý hiện tượng: với thế giới nhân luân và thế giới tâm linh nội ngã: “The umwelt of our biological and physical foundations. The mitwelt of social relations and the eigenwelt of one’s own inner life and self conscious”. Psychotherapy East and West. Alan Watts. Mentor book p.95. Sự phân biệt này giúp ta ý thức rõ hơn về ý nghĩ tam tài là điều cần thiết cho việc hiểu được tự do chân chính là cái có tính chất co giãn và mở rộng ra mãi theo đà tiến của tâm thức, của triết lý.

2.- Bảo chứng

Những điều bàn trên đây không chỉ là những lý lẽ suông nhưng thực ra đã có những hiện thực, những thể chế làm bảo chứng: trong đó phải đặt nổi sự giải phóng con người. Khi con người trong xã hội đã được giải phóng khỏi vòng nô lệ người, nô lệ vật và nô lệ tâm linh thì phải kể là bấy nhiêu bước tiến lớn lao của triết lý. Tuy những điều giải thoát đó chưa lan toả tới toàn dân vì trình độ học thức và kinh tế xưa quá thấp. Nhưng khi đã có lý thuyết và một số thể chế để thực hiện thì ta đã có thể coi như những bảo chứng quí giá, chúng bắt ta phải kính nể và nghiên cứu về những tư tưởng đó. Vậy nền tư tưởng Đông Phương nhất là phần Việt Nho đặt con người trong tam tài như một vua trong vũ trụ nên rất ít bị lệ thuộc, nhờ đấy vấn đề chỉ còn là cố hiện thực đến độ chí thành để được như thần. Do lẽ đó ta hiểu tại sao triết Nho đề cao vai trò con người đại ngã có vẻ còn hơn cả trời cùng đất, là cốt nhấn mạnh đến nhân chủ tính con người, vì nó là gốc nguồn của tự do chân thực. Ta có thể nhận thấy sự quan trọng đặt nơi con người trong một số câu minh triết chẳng hạn: “thiên thời bất như địa lợi, địa lợi bất như nhân hoà”.

Trên đây là một suy luận liên hệ tới tiêu biểu thuộc thời gian nên ít người nhận ra và điều đó không mấy quan trọng miễn người ta hiện thực được nội dung chân thực của quan niệm tự do. Và lúc ấy người ta sẽ hiểu phải chinh phục nó theo chiều hướng nào: không phải trong chiều hướng hàng ngang buông thả các dục vọng, hoặc vượt qua các pháp luật của đoàn thể hay lấn chân vào tự do của lân nhân, nhưng bằng vươn lên, cũng có nghĩa là hướng nội để đón nhận những tia sáng tâm linh tự nơi lòng mình. Mỗi khi những tia sáng đó chớp lên trong lòng là mỗi lần làm trụt xuống một số những thành kiến có tính cách thu hẹp che khuất, không để cho sự vật hiện ra nguyên hình, không cho mình nhận ra mình như mình có trong bản chất uyên nguyên. Nghĩa là một thực thể lưỡng thê; có hai đời sống, một cá nhân trên bình diện hiện tượng, một đại ngã tâm linh trên bình diện vũ trụ. Tự do phải biết tìm trên bình diện vũ trụ thì mới thoả mãn nguyện vọng sâu thẳm của con người. Không nhận ra điều đó lại chỉ tìm cầu có bình diện hiện tượng thì sẽ lấn chân sang địa hạt khác: ở cá nhân là một tài năng lấn sang tài năng kia thí dụ lý lấn tình, còn với tha nhân là những bất công hoặc những lộn xộn làm rối loạn trật tự của đời sống công cộng. Còn khi ý thức ra được đại ngã tâm linh thì mặc tình chinh phục và mỗi bước tiến lên được ghi nhận bằng một cuộc chuyển hoá tâm thức được biểu lộ bằng sự rộng mở chân trời cho hồn tung cánh bay lên. Và như thế thì cuộc chinh phục tự do đã không làm phiền lân nhân hay xã hội mà còn trở nên một cuộc hành hương đầy hứng khởi nên cũng rất kiên trì hơn cả các lối tu trí của các tôn giáo.

Vì nó sẽ dẫn đến cái trí chân thực, đến chỗ tam gia tương kiến (ba nhà xem tận mặt nhau) không còn bị hình danh sắc tướng che khuất để nô lệ hoá mình. Đấy là cái nhìn gây nên tâm hồn thư thái an nhiên an lạc, cái nhìn ra chính bản tính uyên nguyên của con người vốn là một thực thể đầy tự do. Chính với tự do hàng dọc tâm linh này mà chúng ta mới có quyền nói bản tính con người là tự do. Nói thế hay nói bản tính con người là thần cũng như nhau. Vì thần là tự ý định đoạt nên gọi là tự do: có nghĩa là do tự mình phát xuất định đoạt; ngoại giả các loại tự do hàng ngang: tự do theo dục vọng, tự do chèn ép nhân lân tự do phá rối trật tự chỉ là những nẻo đường đưa tới vong thân, thù hận. Bấy nhiêu điều là sản phẩm của những nền triết học bò ngang.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s