LẠC THƯ MINH TRIẾT – CHƯƠNG 1 GIA PHẢ (3)

Nên Lạc Thư chỉ con là mấy con số chết chẳng ai hiểu 3,5,9 là cái chi chi nữa. nhưng nếu đào sâu xuống giếng thì sẽ nhận ra 3 là con số của Tam Miêu (Miêu Việt) đó chỉ tam tài là cái nền móng lớn lao cho mối ương quan uyên nguyên giữa trời, đất, người. 5 là ngũ hành tức luật tương sinh “giá sắc”, là con số của Nữ Oa, mẹ của Viêm Việt, còn 9 là con số tương thấu tương nhập, tận cùng của cửu lý, cửu long, “nam thất nữ cửu” nên là những con số của dòng mẹ nông nghiệp. Ai cũng biết trong tay Nữ Oa là cái Qui hay số 5. Còn Phục Hi là cái Củ hay số 4. Cả hai là số sinh. Bây giờ phải thêm một số nữa cho ra số thành thì 4 đi với 3 = 7 (4)

4 đi với 5 = 9

Vậy cho nên văn hoá phương Nam là văn hoá nền Mẹ (nữ cửu) và những cái tết Thanh minh (3,5) Đoan ngọ (5,5) và Trùng cửu (9.9) Trung Thu (15/8) đều là những tết thuộc văn minh mẹ sẽ bàn sau trong quyển triết lý Cái Đình. Đó là nền văn minh của phương Nam, của Lạc Thư, nó đã là một thứ quê hương tinh thần tổ tiên luôn luôn hướng tới những chữ “Lạc thổ, lạc quốc, lạc giao” khi bị văn minh du mục phương bắc khuynh đảo. Bài Thạc thử trong Quốc Phong thường được hiểu là tiếng dân chỉ trích nhà cầm quyền áp hiếp, nhưng còn có thể hiểu rộng về văn minh Bắc Phương đàn áp văn hoá phương Nam

1

Thạc thử! Thạc thử!

Vô thực ngã miêu

Tam tuế quán nhữ

Mạc ngã khẳng lao

Thệ tương khứ nhữ

Thích bỉ lạc giao

Lạc giao, Lạc giao

Thùy chi vĩnh hào!

Chuột to (chỉ người phương Bắc, vì Bắc thuộc cung tí là chuột) đừng ăn mạ ta, chữ Miêu lại chỉ dân “Hữu Miêu”. Tam tuế quán nhữ: đã ba năm ta phải đối phó với ngươi. Ba năm nay được hiểu là lâu năm, cũng biểu thị bằng ba vòng con giáp 3×60=180 năm. Ta biết Hồng Bàng Thị có mặc trước Hoàng Đế của Hoa Tộc 182 năm! Tức là đã lâu đời khai sơn phá thạch để có thể cấy cày… Vậy mà mày chẳng có kể tới công lai đó (mạc ngã khẳng lao) thế thì chúng tao phải bỏ mày mà đi (thệ tương khứ nhữ) đến một miền an vui kia = “thích bỉ lạc giao”

Ôi lạc giao!

Ôi dân Lạc giao!

Vì ai mày phải than gào?

Thưa vì chuột phương Bắc nên phải bỏ quê cũ là Lạc ấp để Nam tiến, lập ra miền Lạc Việt mới. Tưởng vậy đã được an vui (lạc) ai dè nó còn cho Trọng Thủy xuống khiến cho đầu Mỵ Nương bị lưỡi gươm oan nghiệt xía vào. Thế là tự đấy cũng mất luôn cả Lạc giao, vì đã mất cả ý thức về đạo lý của Lạc Thư. Thế là tiếng khóc than của đoàn người Lạc Việt kéo dài hơn hai ngàn năm, cho tới nay lại thêm cái đoàn chuột chù từ Tây Bắc tràn đến làm cho tiếng bi ai trở nền trầm thống vô cùng.

Hôm nay chúng ta trở lại tìm hiểu cái cơ cấu của Lạc Thư, hòng mở ra được một cuộc phục hưng trung thực. Đó sẽ là điều được thử làm trong khoá giảng này. Nhưng trước hết cần phải tìm hiểu khái quát về Lạc Thư.

Và câu hỏi đầu tiên là tại sao lại gọi Lạc Thư là sách mẹ? Thưa gọi là sách mẹ để đối lại với Hà Đồ là sách của Bố. Bố đi theo vòng ngoài phải chịu điều kiện của thời không, hết sáng mới đến trưa, hết Đông mới đến Tây, có nghĩa là đi theo lối lần từng bước gọi là diễn dịch, là luận lý hay biện chứng. Còn mẹ Nữ Oa lại cắm cái qui tròn chi lối biết trực thị, trực giác là cái biết riêng của phụ nữ có sự mẫn tiệp tâm linh và tế nhị hơn đàn ông vì thế mới có câu “Lạc Thử hình vuông mà dùng tròn” Điều đó được biểu thị trong hình Lạc Thứ sáu:

2.PNG

Vì là vuông nên bánh chưng chính ra là bánh đất, nhưng có truyền thuyết cho là tự đời bà Trưng đã đổi tên là bánh Trưng, Bà Trưng là mẹ vuông (âm) nhưng lại dung tròn. Tròn là chu tri, tức là cái nhìn trực giác.

Vì thế từ thập tự nhai (tức số 5 của Nữ Oa nghi mẫu) toả ra các số chung quanh trực tiếp mà không có hai vòng trung gian như ở hà Đồ. (Xem Dịch Kinh lình thể tr.148…) Chính vì trực giác như thế nên tinh hoa của Lạc Thư là nhìn ra trời ở ngay trong đất, bởi vậy ở Lạc Thư số đất (số chẵn) chen lấn với số trời (số lẻ). Điều ấy có nghĩa là nhìn thấy đạo ngay trong đời khỏi tìm đâu xa, nói khác nhìn thấy cái phi thường ngay trong những cái thường thường. Chính vì thế mà đàn bà ưa thích cái gì cụ thể, riêng tư vì do khả năng nhìn thấy trong cái riêng tư có cái phổ biến, nhìn ra được cái vô biên, trong cái hữu hạn.

Chính bởi đó mà Lạc dân có thể hãnh diện là dân tộc duy nhất trong thế giới mà không có triết học. Sở dĩ không có triết học là điểm đáng hãnh diện, vì triết học đã được thâu nhập vào đời sống nên gọi là giao lạc, giao chỉ theo nghĩa là hai chỉ giao nhau: chỉ trời giao thoa với chỉ đất, chỉ phi thường giao thoa với chỉ thường thường, nói khác là triết học được hiện thực vào đời sống, nến không còn triết học đứng riêng bên ngoài đời sống. Muốn thấy triết Việt thì đừng tìm trong sách nhưng phải tìm trong những lối sống, thí dụ trong lối tính tuổi của Tây thì không hàm ngụ triết nhưng trong lối tính tuổi ta thí dụ tôi sinh năm Giáp Dần thì Giáp là Thiên can hay phi thường nằm trong Dần chỉ cái thường thường. Nhờ thế mà bên Việt Nam triết học đã được hiện thực vào đời sống trước dăm ngàn năm sớm hơn những nơi chỉ biết tìm cái phi thường ở cái phi thường, nên thiếu hiệu nghiệm.

Vì phi thường không thường xảy ra nên mới gọi là phi thường, nên khi tìm cái phi thường trong cái phi thường là chạy theo ảo tưởng. Muốn tránh ảo tưởng phải biết tìm đạo ngay trong đời, tìm phi thường ngay trong những cái thường thường gần gũi, có vậy mới hiệu nghiệm. Ta có thể đem ra tang chứng là chính trong đất Giao Chỉ đã thấm nhuần Minh triết Lạc Thư mà con người được giải phóng khỏi ách nô lệ nhiều ngàn năm trước các nền văn minh khác, các làng xã được cai trị theo lối dân chủ từ ngày khai quốc và có thể gọi là ước trị. Đó là những đề tài mà sự đi vào chi tiết sẽ vượt giới hạn bài này. ở đây chúng ta chỉ đi vào cơ cấu nền tảng để xem sự giao thoa cũng gọi là nhập thể của Lạc Thư được hiện thực như thế nào.

Chúng ta thấy tiền nhân đã hiện thực theo lối tam tầng là thiên, địa, nhân đại để như sau: Thiên thời: Khuôn theo Lạc Thư và lúc ấy gọi là nguyệt lệnh với nhà Minh đường cũng gọi là nhà làm lịch. Nhà Minh Đường có hai kiểu một kiểu 5 căn nói lên rõ thập tự nhai:

3

Nhân hoà gồm những nguyên lý giúp con người sống với nhau cho hoà hợp. Các nguyên lý đó được phân phối ra 9 ô của Lạc Thư và lúc ấy gọi là Hồng Phạm nghĩa là cái mẫu mực lớn lao và mẫu đó gọi là ngũ hoàng cực, hay là tâm linh: mọi hành vi con người tư nhân cũng như công dân trong xã hội không thể ra ngoài tâm linh. Đó chính là cái dạng thức đang thiếu cho các xã hội hiện đại. Muốn cho cái Hồng Phạm ăn sâu vào tâm thức mọi người dân trong nước thì cần phải lấy việc huấn linh làm quan trọng. Huấn linh là dậy cho con người biết đời sống tâm linh. Vì thế các trường xưa đều rập theo mẫu Lạc Thư là tròn bao bọc vuông như Lạc Thư (thể phương nhi dụng viên). Vì thế các trường đã dùng ngay lối kiến trúc tròn vuông để nói lên điều đó, tức là tâm linh giao thoa với lý trí. Lý trí thường biểu thị bằng nhà vuông. Còn tâm linh bằng ao nước tròn như trường Bích Ung đời nhà Chu (Lễ ký Couvreur t.I. 280-281) trong đó dậy ca vũ, các cụ già được dự lễ dậy bắn tên và dự tiệc. Khi ngồi ăn tiệc thì xếp hạng theo tuổi tác, Trường của Chư Hầu gọi là Phán Thủy hay là Phán Cung vì ao chỉ là bán nguyệt. Bích Ung của Văn Vương có liên hệ với Linh Đài là thứ nhà có khả năng kéo được Linh Đức cũng là thứ nhà có ao chung quanh. Kinh thi gọi ao này là Chiêu hữu hay là Hàm trì. Rất có thể nhà trường “Bích Ung” cùng các hình thái đi kèm là lặp lại một dạng thức lâu đời hơn gọi là Động Đình Hồ tức là đình vuông xây ở giữa hồ nước tròn (nước chỉ Đông) trên đó có ca vũ bài “Hàm trì” mà Trang Tử nhắc tới trong Nam Hoa chân kinh (ch. 14C). Vì đấy cũng là trường dạy nền Minh triết Lạc Việt, vì Lạc dân khác du mục ở chỗ trọng văn đức hơn võ lực, nên trọng tuổi già, vì tuổi đại diện cho kinh nghiệm từng trải, bởi thế những giáo chức trong các trường Bích Ung bao giờ cũng phải là người già. Và trong các môn dạy thì bao giờ cũng có vũ chỉ sự biến dịch lưu linh và nhạc để chỉ sự hoà giao giữa người với thiên địa. Trang Tử viết:

4

5

Bài “Hàm trì” hát trên địa vực Động đỉnh Hồ tức là trên đất Việt cũng như bài ca lâu đời nhất do ba người múa hoặc nhiều đợt ba người (chỉ Tam Miêu. Khi múa thì tay cầm đuôi bò, là tỏ mối quan hệ với Thần Nông ông tổ của Lạc Việt, có họ Khương, chữ Khương viết với bộ Dương (nên nói đầu bò).

Xin nhắc lại là có rất nhiều sử gia đã ghi nhận sự đứt quãng của hai dòng lịch sử xảy ra lối 200 trước kỷ nguyên: Trước đó là đời sống đầy ca vũ, múa nhảy, còn sau đó là sự im dần tiếng hát tiếng ca. Đời Khổng Tử còn đàn ca hát múa, đến sau dần thì “xướng ca vô loài” người ca nhi không được thi cử… Đấy là dấu tỏ óc du mục đã làm ngạt thở tinh thần nông nghiệp của Lạc Thư. Huyền sử gọi đó là Mỵ Châu bị sát hại!. Vì thế hôm nay đi tìm lại gia phả chúng ta chỉ còn có những vết âm u như ẩn như hiện. Liệu có còn tìm ra những người đủ sức hú cho hồn Lạc Thư sống trở lại được chăng?

Chú thích: (1) Khó có thể qui định bờ cõi của sự chuyển tiếp chữ chân chim sang chữ con quăng. Vì ta có thể nghĩ rằng chữ viết theo viết chân chim chẳng qua là một lối nói để chỉ chữ của Viêm Việt là dân nhận vật biểu chim đi với tiên với mẹ: còn chữ con quăng là về phía bố phía rồng viết với bộ Trãi thuộc hình dạng con quăng. Vậy xét về nguồn gốc thì cả hai có thể chỉ là một thay đổi về dạng thức mà thôi và vì thế ta có thể coi đây là giai đoạn của chữ Việt. Chữ Việt này sẽ bị Tần Thủy Hoàng bãi bỏ để thay bằng chữ Lệ. Cũng chính vì sự thay đổi lối viết mà ý nghĩa bộ (chữ mẫu) không còn quan trọng trong chữ viết. Nhiều học giả nhắc luôn như Granet đã nhắc đến 2 lần trong 1 trang (Danses 5).

(2) Trong tiền Hán Thư (c. 76 tr. 10. 1) có nói đá đến cửa sấm. Lời chú nói cửa sấm là cửa thành Cối Kê, kinh đô Việt Chiết Giang, nơi ấy có cái trống lớn khi con Bạch Hạc bay vào cửa thành chạm phải trống tiếng kêu vang tới Lạc Dương (Danses 504). Phải chăng đó là lối nói người Việt còn hiện diện cả trên Lạc Dương, từ Lạc Dương đến Cốt Kê…

(3) Chữ Mỵ chỉ tình thương có thể quá đáng không còn biết đề phòng , nên Mỵ Châu có thể là quá Nhân, ngược lại Trọng Thủy quá Trí. Rất có thể người xưa đã chơi chữ khi viết tên Trọng Thủy thì viết chữ Thủy là bắt đầu, nhưng ngầm hiểu thủy là nước: mà thủy chỉ trí nên trọng thuỷ là duy trí vì duy trí nên hoá ra “ngư tinh”, chỉ du mục bắc phương quá lý trí mà thiếu tình nghĩa.

(4) Không thể đi với số 2 vì đã khởi đầu số đất 4 thì phải hợp với một số trời như 1,3,5, vì với số 1 thì 4 không đủ ra khỏi vòng sinh (1 cộng 4 bằng 5) còn số 5 thì đã bị Nữ Oa nắm, nên chỉ còn có số 3 mà 3 cộng 4 bằng 7 nên nói nam thất.

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s