LẠC THƯ MINH TRIẾT – CHƯƠNG 1 GIA PHẢ (2)

Bải rằng thiếu sử liệu chỉ là lý rất đuối vì là lý chứng tiêu cực, đã vậy không hẳn là thiếu, thí dụ “Tấn thư thiên văn chi” cho là phận dã nước Việt là hai sao Ngưu và Nữ tức là ở mạn Bắc rồi (3) nơi ấy có ấp Thường gần núi Hằng, có lẽ vì vậy mà có truyện Việt Thường cống chim trĩ (lại chim). Chúng ta biết theo Nguyệt lệnh thì biểu tượng phương Nam là Vũ chỉ cánh chim, đối với Tây là Mao (lông thú). Lại nữa theo bảng thập nhị bát tú thì chòm sao Phương Nam là Chu Tước (gồm bảy sao: tỉnh, quỉ, liễu, tinh, trương, dực, chẩn) nên cống chim trĩ phải hiểu theo huyền sử, trong đó lúc đầu “nước non” chưa phân li. Sơn Tinh và Thủy Tinh còn bồ với nhau nên Lạc long Quan vẫn lấy Âu Cơ thuộc núi, lửa. Tuy nhiên đấy cũng là giai đoạn sửa soạn cho nước non phân li. Vì thế Lạc long Quân tuy ở dưới nước mà đã giết Ngư Tinh (thủy tộc) và do kinh nghiệm ấy mà nói với Âu Cơ rằng: “ta là rồng sinh trưởng ở thủy tộc, nàng là giống tiên sinh ra trên đất (núi, lửa). Thủy, hoả “tương khắc” khó mà ở cùng nhau trường cửu. Nhưng dù có “đăng sơn nhập thủy” thì vẫn “hữu sự tương văn”. Sau đó Âu Cơ đưa 50 con lên ở “Phong Châu” sách viết rằng: “Âu Cơ dữ ngũ thập nam cư vu Phong Châu kim viết Bạch Hạc, tự suy tôn kỳ hùng trưởng chi vương”. Thực là rõ ràng: chữ Phong viết với bộ Sơn, còn Hạc là chim vốn đi với tiên với mẹ, phiền có câu (bây giờ là huyện Bạch Hạc) cái câu trong ngoặc này làm hại huyền sử bằng cách sử ký hoá, rồi người sau tin cắm mũi vào huyện Bạch Hạc ở Phú Thọ. Thế là để trụt hết ý nghĩa thâm sâu.

Con cả làm vua hiệu là Hùng Vương. Hùng là con chim đực, nghĩa là quyền cai trị chuyển sang tay đàn ông nhưng còn giữ phong thái của mẫu hệ đó là chưa truyền quyền theo cha con mà còn là truyền theo huynh đệ và như vậy quyền mẹ vẫn còn lớn, nên có thể nói là trong nước Văn Lang cồng bà vẫn khua inh ỏi ít ra một nửa bộ chuy của chữ hùng. Thế nghĩa là núi và chim vẫn quấn quít lấy những trang huyền sử nước nhà mà ta có thể chia ra làm ba giai đoạn với bóng mẹ hiền là:

Thái Sơn với bóng Nữ Oa.

Lĩnh Nam với Vu Tiên.

Phong Châu với Âu Cơ.

Đấy là những thời hoàng kim của nền Minh triết Lạc Việt. Trong cả ba giai đoạn các bà còn to quyền nên dầu ông và bà có ở hai nơi non nước khác nhau.

“Trí giả nhạo thủy (Lạc Long Quân) Nhân giả nhạo sơn (Âu Cơ)

Nhưng vì vẫn nghe nhau (tương văn) nên trí giả lạc, phân giả thọ” L.N.V12 1.

Cả hai non nước chưa có gì là xung khắc như về sau đã xẩy ra. Mãi cho tới giai đoạn Mỵ Châu và Trọng Thủy thì vợ đầy tình thương (Mỵ) (4) mà chồng đầy trí xảo (ngư tinh) thì tuy có ở chung với nhau cũng chỉ còn có hai cái xác chết. Và chỉ còn để lại một biểu hiện rất bí ẩn đến độ con cháu không biết đọc ra. Nói khác tự cuối giai đoạn Cổ Loa trở đi thì cặp uyên ương nằm chết trong Việt Tỉnh. Tỉnh là ngôi sao đầu trong chòm sao chu tước án phương Nam, hai ngôi cuối là chẩn và dực. Nói nước Việt nằm ở phận dã sao chẩn, dực hay là Tỉnh, Quỉ cũng là một chòm, chòm phương Nam. Vì thế tiền nhân đã dùng chữ tỉnh làm gốc để biến ra Lạc Thư/

0

Hồng Phạm được khải thị từ sông Lạc (Hà xuất đồ. Lạc xuất thư) cho vua Đại Vũ nhà Hạ. Đại Vũ là họ máu của Si Vưu. Chữ Vũ với Si cùng họ Trung Dung với mầu cờ đỏ quẻ li. Vì thế vua là nhà Hạ, vì mùa Hạ cùng với Phương Nam là một. Sau này Hồng Phạm (tức Lạc Thư) truyền sang nhà Thương Ân cũng là cùng dòng tộc với Việt Nam. (xem Việt điện u linh) nên đã được chôn với Bảo Ngọc ở miền Nam ít ra cái ruột. Còn cái vỏ ngoài thì được một triết gia Việt là Cơ Tử truyền cho nhà Chu, nhà Chu giữ được một thời nên trở thành thịnh đạt: “úc úc hồ văn tai”! ở thời Xuân rồi tan rã ra ở thời Thu để lịm đi hẳn ở thời chiến quốc và thời chiến quốc chấm dứt bằng sự thống ngự của nhà Tần từ Tây Bắc đến đàn áp văn hoá nông nghiệp. Điều đó được huyền sử ghi bằng hình ảnh Mỵ Châu bị sát hại. May trong cuộc tan rã đó có một người ở nước Trâu tên Khổng Tử thuật lại Đạo xưa trong một số kinh điển. Đó sẽ là trung tâm học hỏi cho hai ngàn năm Hán học.

Vì Hán học đổ trút tâm ý vào việc chú sớ huấn hỗ, trích cú tầm chương thành ra đánh mất vi ngôn đại nghĩa nên huyền sử cho bài học đó là cái hang và nói hiện nay cái hang còn ở núi Trâu Sơn”, hiểu rằng Kinh Điển do một hiền triết ở Trâu Sơn san định, nhưng vì người sau học các nộ lệ nên không ai tìm được ý nghĩa, nói bóng là không được con rắn cõng lên khỏi hang, nên trải qua bao đời gào thét chữ kiểu nô Nho, tiểu Nho mà không hiểu được Đại Đạo. Còn về phía Việt Nam thì huyền sử chép “Việt Tỉnh bị bỏ hoang phế” chẳng còn ai đủ sức kín được nước tự giếng lên: bởi sự đào vào tâm linh không đủ sâu, hoặc vì đánh đứt sợi dây truyền thống nên không đạt được chữ Tương nằm trong các cặp nước non, sông núi, nước lửa, tiên rồng, bố cái…

 

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s